Podcast charts
Published by RFI Tiếng Việt
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
On the charts
Every published chart this podcast appears in, in the snapshot behind this page. Each one links to the chart it came off.
From the feed
The latest episodes published to this podcast’s own RSS feed. Titles and descriptions are the publisher’s.
Ngày 10/08/2026, Việt Nam đã khởi công đóng mới một tàu hộ vệ săn ngầm do trong nước thiết kế, mà một khi hoàn thành sau khoảng ba năm nữa sẽ là tàu chiến mặt nước lớn nhất của Hải quân Nhân dân Việt Nam (VPN). Tàu này, do Tổng công ty Sông Thu phối hợp Quân chủng Hải quân đóng mới, được mô tả là “tàu hộ vệ chống ngầm đa năng, sản phẩm tàu chiến lớn và hiện đại nhất từ trước đến nay do Việt Nam tự thiết kế, chế tạo”. Truyền thông Nhà nước Việt Nam cho biết tàu hộ vệ “100% made in Vietnam”, hiện chưa được đặt tên, sẽ được trang bị radar mảng pha quét điện tử chủ động (AESA), tên lửa phòng không và tên lửa chống hạm tiên tiến do Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) cùng các nhà máy quốc phòng liên kết với tập đoàn này tự nghiên cứu, chế tạo. Như loại tên lửa chống hạm trang bị cho tàu được cho là biến thể hải quân của dòng tên lửa VCM-01. Cụ thể hơn, tàu hộ vệ mới này theo dự kiến sẽ được trang bị hệ thống vũ khí nào? Những vũ khí đó có hoàn toàn do Việt Nam sản xuất? Trả lời RFI Việt ngữ ngày 15/08/2026, tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, cho biết: "Hiện tại vẫn chưa rõ là tàu hộ vệ săn ngầm đa năng mới này có lượng giãn nước bao nhiêu tấn. Nhìn vào hình ảnh cũng như những thông số vũ khí của tàu, các chuyên gia dự đoán lượng giãn nước của tàu này có thể từ khoảng 2.500 tới 3.000 tấn. Cũng theo như hình ảnh được bộ Quốc Phòng Việt Nam công bố, tàu hộ vệ tầm 3.000 tấn này được trang bị thứ nhất là một khẩu pháo 76 ly AK-176. Khẩu pháo này sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ tàu trước những mục tiêu ở gần. Ngoài ra, bởi vì đây là tàu săn ngầm, cho nên tàu sẽ được trang bị thứ nhất là hai rocket RBU-6000 làm nhiệm vụ chống tàu ngầm. Rocket này cũng đã được trang bị cho các tàu săn ngầm khác mà Việt Nam có trước đây. Tàu cũng được trang bị hai ống phóng ngư lôi 533 ly, được đặt ở hai bên mạn tàu và tàu cũng có một cái sàn đáp cho trực thăng săn ngầm Ka-27, hiện đang trong biên chế của Hải quân Việt Nam. Đó là nhóm vũ khí săn ngầm chính. Ngoài ra, đặc biệt là tàu sẽ được trang bị một hệ thống phóng thẳng đứng gồm khoảng 12 bệ phóng thẳng đứng. Theo giới chuyên gia quân sự, 12 ống phóng này được trang bị các loại tên lửa phòng không tầm ngắn, cũng do Viettel nghiên cứu phát triển. Ngoài ra, ở đầu và ở đuôi tàu sẽ được trang bị hai tên lửa vác vai phòng không tầm ngắn Igla, cũng là một sản phẩm do Việt Nam phát triển, thông qua những mẫu thiết kế của Nga. Ngoài ra, để chống drone hay tên lửa hành trình tiếp cận tầm gần, tàu cũng được trang bị hai khẩu pháo AK-630 30 ly. Đối với chống tàu mặt nước, tàu được trang bị hai bệ 4 x 4 tên lửa hành trình chống tàu. Chắc chắn loại tên lửa được trang bị sẽ là họ tên lửa VCM-01 mà Viettel vừa phát triển và vừa công bố trong khoảng 2 - 3 năm trở lại đây. Mẫu tên lửa hành trình chống tàu này cũng dựa trên nguyên bản là mẫu Kh-35, tên lửa hành trình chống tàu của Nga. Ngoài ra, một trong những công nghệ nổi bật là tàu được trang bị loại radar mảng quét điện tử AESA bốn mặt ở trên tháp pháo của tàu. Toàn bộ hệ thống radar này cũng như các radar dẫn bắn và các loại cảm biến trên tàu đều là sản phẩm của Viettel. Giới quan sát rất quan tâm tới hệ thống radar và những loại thiết bị vũ khí, đặc biệt là các loại vũ khí chống ngầm và năng lực phát triển hệ thống ống phóng thẳng đứng, bởi vì những trang thiết bị này lần đầu tiên xuất hiện trong một tàu chiến mà Việt Nam hiện có. Ngoài ra còn có hệ thống sonar, bởi vì khi nói tới tác chiến chống ngầm thì không thể thiếu được "hệ thống định vị thủy âm dưới nước". Nếu nhìn hình ảnh thì chúng ta thấy tàu chống ngầm cũng có hệ thống sonar. Tuy nhiên chưa rõ là loại sonar mới này sẽ do Việt Nam phát triển hay do nước ngoài phát triển. Nhiều nguồn tôi tiếp cận được thì cho rằng Việt Nam sẽ mua hệ thống sonar này của Pháp, của Thales, tại vì các hệ thống sonar của Thales Việt Nam đã tiếp cận và cũng đã lắp đặt trên các tàu chống ngầm cũ của Việt Nam rồi. Ngoại trừ hệ thống sonar và có thể là ngoại trừ tên lửa phòng không, tất cả những thứ khác từ súng cho tới rocket chống ngầm và các loại radar đều là sản phẩm của ngành công nghiệp ttong nước, không chỉ là Viettel, mà còn một số nhà máy của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam sản xuất ra. Có thể thấy là từ 80 tới 90% các hệ thống vũ khí, radar và các hệ thống vận hành tàu đều là sản phẩm của Việt Nam, dựa trên các thiết kế trước đây đã được kiểm chứng trong quá trình mà Việt Nam vận hành các loại tàu chiến khác nhau. Hiện nay, lực lượng tàu chiến mặt nước chủ lực của Hải quân Nhân dân Việt Nam bao gồm bốn tàu hộ vệ tên lửa lớp Gepard 3.9 do Nga chế tạo: Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo và Quang Trung. Chỉ có hai tàu Trần Hưng Đạo và Quang Trung là được trang bị các hệ thống chuyên dụng cho tác chiến chống tàu ngầm. Việt Nam cũng đang vận hành sáu tàu ngầm điện-diesel lớp Kilo, cùng với một số tàu hộ vệ và tàu hộ tống đời cũ hơn do Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc chuyển giao. Đồng thời, Việt Nam cũng mở rộng việc tự sản xuất các loại tàu tên lửa và tàu tuần tra. Tàu hộ vệ mới được kỳ vọng sẽ tăng cường khả năng của Việt Nam giám sát và ứng phó với các hoạt động trên biển, đặc biệt là tại những vùng biển đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Phương nhận định: "Các loại tàu chiến mới này thứ nhất sẽ đóng vai trò như một phòng thử nghiệm cho việc phát triển các loại công nghệ và vũ khí mới của Hải quân Việt Nam trong tương lai, chứ không hẳn chỉ đóng vai trò tác chiến. Công nghệ mới nào cũng cần phải được thử nghiệm trong huấn luyện cũng như trong các cuộc diễn tập khác nhau, để xem các loại vũ khí mới đó có thực sự nó phù hợp với nhu cầu của con tàu và với mục tiêu tác chiến kỹ chiến thuật trên biển mà Hải quân Việt Nam yêu cầu hay không. Nhiệm vụ quan trọng nhất của tàu này là một phòng thí nghiệm cho các loại vũ khí mới mà Hải quân Việt Nam muốn nghiên cứu chế tạo và sản xuất. Nhiệm vụ thứ hai rõ ràng là giải cơn khát về tàu chiến mặt nước của Việt Nam chắc phải từ 5 - 6 năm nay: Tàu chiến mặt nước gần nhất mà Việt Nam mua là của Nga từ 2019. Cho tới nay đây là tàu mặt nước lớn nhất mà Việt Nam tự chủ chế tạo và sản xuất. Trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, thông qua hợp tác quốc tế và thông qua nỗ lực tự thân, Việt Nam cũng có đóng một số tàu tuần tra nhỏ, một số tàu cho Cảnh sát biển, tàu cứu hộ tàu ngầm, tàu huấn luyện, hoặc một số số tàu logistic khác, nhưng tàu chiến mặt nước từ 2019 đến nay chưa có. Trong tương lai, cho tới năm 2030, Việt Nam mong muốn xây dựng được một năng lực tác chiến hải quân hiện đại đủ khả năng răn đe, chống xâm nhập, chống tiếp cận ở Biển Đông, đặc biệt là xung quanh khu vực tranh chấp. Việc sở hữu được một tàu chiến mặt nước có lượng giãn nước lớn, khoảng 3.000 tấn, sẽ giúp Việt Nam cải thiện năng lực tác chiến mặt nước. Chưa kể là, nếu như tốc độ đóng tàu này tốt, nếu như những năng lực hải quân, công nghiệp quốc phòng thử nghiệm tốt, thì khả năng sắp tới Việt Nam sẽ xây dựng một mô hình tương đương với mô hình hạm đội của các nước phương Tây. Không lớn bằng mô hình hạm đội đó nhưng cũng đủ để Việt Nam có thể duy trì một lực lượng tác chiến độc lập, cơ động và giúp Việt Nam giải quyết các vấn đề trên biển một cách chủ động hơn." Theo nhận định của hãng tin Anh Reuters ngày 12/08, việc đóng mới loại tàu hộ vệ này “đánh dấu một bước tiến nữa trong nỗ lực của Việt Nam nhằm phát triển ngành công nghiệp quốc phòng nội địa và giảm sự phụ thuộc vào các trang thiết bị có nguồn gốc từ Nga”. Hà Nội ngày càng chú trọng phát triển các giải pháp thay thế trong nước, trong bối cảnh các lệnh trừng phạt và sự giám sát quốc tế đối với trang thiết bị quốc phòng Nga gây khó khăn cho việc mua sắm và bảo trì khí tài. Về điểm này, tiến sĩ Nguyễn Thế Phương ghi nhận: "Ở thời điểm hiện tại thì ưu tiên của Việt Nam sẽ là phát triển một nền công nghiệp quốc phòng nội địa tự thân, hiện đại, lưỡng dụng và ngày càng bớt phụ thuộc vào các nhà cung cấp vũ khí nước ngoài trong mọi lĩnh vực quốc phòng mà Việt Nam có thể tự nghiên cứu và tự chế tạo vũ khí. Quá trình phát triển vũ khí hải quân này đã có từ 10 năm rồi, đặc biệt là từ sau sự kiện Hải Dương 981, Việt Nam bắt đầu dồn nguồn lực vào phát triển công nghiệp quốc phòng, mà công nghiệp đóng tàu chiến là một trong những cấu thành quan trọng của toàn bộ tổ hợp công nghiệp quốc phòng đó. Phải 10 năm sau cho đến bây giờ, chúng ta mới thấy được một số thành tựu nhất định. Vẫn còn rất nhiều thứ phải vượt qua, ví dụ như giới quan sát cũng nói rằng là ngành đóng tàu Việt Nam vẫn chưa có tự chủ được hoàn toàn 100%. Hay là hệ thống động cơ của con tàu mới, Việt Nam cũng vẫn chưa có đủ năng lực để chế tạo hệ thống động cơ hộp số và động cơ vận hành con tàu. Nhiều nguồn tin nói là Việt Nam sẽ không mua hệ thống động cơ từ Nga, mà sẽ mua động cơ từ Đức cho tàu mới này. Nó cũng cho thấy tư duy của Việt Nam là không một quốc gia nào có thể trở thành một đối tác đóng vai trò quá lớn. Đây cũng là bài học mà Việt Nam rút ra được từ cuộc chiến Nga-Ukraina. Những yếu tố mang tính cải thiện năng lực của toàn bộ chuỗi cung ứng công nghiệp quốc phòng thứ nhất là sẽ giúp Việt Nam bớt phụ thuộc vào Nga, sẽ giúp Việt Nam chủ động hơn trong việc thực thi chiến lược hiện đại hóa quân đội, hiện đại hóa Hải quân Việt Nam. Thứ hai, nó cũng giúp cho nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam có thêm nguồn lực. Ở đây là nguồn lực không chỉ tới từ nhà nước mà còn là hợp tác công tư trong công nghiệp, mở rộng thị trường cho ngành công nghiệp, bởi vì bất cứ ngành công nghiệp nào cũng cần có thị trường để tồn tại. Chỉ dựa hoàn toàn vào ngân sách nhà nước thì không ổn. Ở đây phải có sự tham gia của tư nhân, một số nhà thầu quốc phòng. Ở thời điểm hiện tại thì Việt Nam cũng sẽ không ưu tiên mua sắm theo kiểu chỉ mua vũ khí, mà Việt Nam cũng đòi hỏi ở các đối tác của mình một số điều khoản về chuyển giao công nghệ. Đó là lý do mà gần đây Việt Nam liên tiếp nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với một số nước, nhất là một số nước rất mạnh về công nghiệp quốc phòng như Nhật Bản, Hàn Quốc. Hàn Quốc là nhà xuất khẩu quốc phòng lớn thứ chín thế giới. Những đối tác song phương quan trọng như vậy sẽ giúp mở rộng nguồn cung cấp công nghệ và giúp Việt Nam ngày càng giảm phụ thuộc vào Nga, cũng như giảm phụ thuộc vào bất kỳ một quốc gia nào khác. Càng ít phụ thuộc thì càng chủ động trong quá trình hoạch định chính sách, cũng như trong quá trình hiện đại hóa quân đội cũng như Hải quân nói riêng." Việt Nam cũng đang chuẩn bị tổ chức Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam lần thứ ba tại Hà Nội vào tháng 12 tới. Sự kiện được tổ chức hai năm một lần này nhằm mục đích quảng bá ngành công nghiệp quốc phòng trong nước, đồng thời là cơ hội để Việt Nam tìm kiếm thêm nhiều nhà cung cấp trang thiết bị quân sự quốc tế. Tại triển lãm đầu tiên vào năm 2024, Việt Nam đã công bố tên lửa chống hạm đầu tiên do trong nước sản xuất mang tên Trường Sơn, cũng do Viettel phát triển.
Tháng 02/2026, Liên Hiệp Châu Âu (EU) đưa Việt Nam vào danh sách các khu vực không hợp tác về thuế do “chưa đạt mức xếp hạng tối thiểu là “Tuân thủ phần lớn” (Largely Compliant) theo đánh giá của Diễn đàn Toàn cầu về cơ chế trao đổi thông tin theo yêu cầu” . Đến tháng 08, Việt Nam đã nộp hồ sơ đề nghị đánh giá chuyên sâu, hướng tới nâng hạng tuân thủ, đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các khu vực không hợp tác về thuế của EU (1). Được rút hỏi danh sách đen về thuế không chỉ giúp Việt Nam tránh các biện pháp trừng phạt phòng vệ từ các đối tác lớn như Liên Hiệp Châu Âu, mà còn củng cố uy tín quốc gia trong hệ thống tài chính toàn cầu. Đây có thể được coi là mục đích chính trong chuyến thăm công tác tại Pháp của tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm từ ngày 09 đến 11/09/2026. Pháp có thể hỗ trợ được Việt Nam như thế nào trong lần đánh giá sắp tới của Liên Hiệp Châu Âu, dự kiến diễn ra tháng 10/2026 ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược Trường Quân sự Pháp, IRSEM. RFI : Trong bản cập nhật ngày 17/02/2026, Việt Nam và chín vùng lãnh thổ và quốc gia khác nằm trong danh sách "các khu vực pháp lý thuế không hợp tác" của Liên Hiệp Châu Âu. Đợt đánh giá tiếp theo dự kiến vào tháng 10/2026. Quyết định của Liên Âu gây bất lợi như thế nào cho Việt Nam về hình ảnh và các quyết định đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ cũng mở ba cuộc điều tra đối với Việt Nam ? Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên cần lưu ý là trong thời gian qua đã diễn ra nhiều cuộc tiếp xúc cấp cao giữa tổng thống Pháp và chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Việt Nam. Đây là lần thứ ba hai nhà lãnh đạo gặp nhau trong chưa đầy hai năm. Cuộc gặp đầu tiên diễn ra bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ tại Villers-Cotterêts năm 2024, tiếp đó là cuộc gặp tại Hà Nội vào tháng 05/2025 và lần này là cuộc gặp thứ ba. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng quan hệ song phương vẫn chưa đạt được tốc độ phát triển như kỳ vọng của cả hai nước. Trong bối cảnh đó, có một số vấn đề đáng được xem xét. Chuyến đi lần này mang tính chất chuyến công tác, không phải chuyến thăm cấp Nhà nước, do đó nội dung làm việc sẽ không chỉ giới hạn ở các vấn đề song phương. Dù một số ý kiến cho rằng hợp tác trong lĩnh vực không gian và hàng hải sẽ được thảo luận nhưng tôi cho rằng Việt Nam còn quan tâm đến nhiều mục tiêu quan trọng khác. Đáng chú ý, phái đoàn tháp tùng ông Tô Lâm từ ngày 09 đến 11/09 có quy mô rất lớn, khoảng 180 thành viên. Việt Nam hiện có hai mối quan tâm hàng đầu. Thứ nhất là việc bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen về thuế” đối với các quốc gia không hợp tác từ ngày 17/02/2026. Vấn đề này sẽ được xem xét lại vào tháng 10 tại Bruxelles. Trước đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã cử một phái đoàn tới hỗ trợ Việt Nam đáp ứng các tiêu chí về minh bạch và hợp tác thuế quốc tế. Sẽ phải chờ xem tác động của phái đoàn này. Tuy nhiên, Liên Hiệp Châu Âu không nhất thiết phải tuân theo các khuyến nghị của OECD. Trong bối cảnh đó, Paris đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Với vị thế là một trong những quốc gia có ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu, Pháp có thể ủng hộ quan điểm của Hà Nội và vận động để Việt Nam được rút khỏi nhóm 10 nước trong danh sách đen về thuế. Đọc thêm Liên Hiệp Châu Âu đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch Điểm thứ hai, việc Việt Nam bị đưa vào danh sách đen có thể là một yếu tố làm phức tạp thêm, gây ảnh hưởng đến tiến trình phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EU-Việt Nam (EVIPA) tại các nước thành viên. Đối với Việt Nam, EVIPA là một ưu tiên chiến lược, thường được Hà Nội nhắc đến, bởi vì hiệp định này nhằm tăng cường bảo đảm pháp lý cho các nhà đầu tư châu Âu, khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng, năng lượng, công nghiệp và công nghệ, phù hợp với những ưu tiên đầy tham vọng mà ông Tô Lâm đang thúc đẩy. Paris cũng chưa phê chuẩn Hiệp định này. Quá trình đã được khởi động và dự kiến sẽ sớm có tiến triển. Việc Pháp sớm phê chuẩn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Nhìn chung, các ưu tiên của Việt Nam hiện nay tập trung vào hai nội dung chính : Trước hết là các vấn đề tài chính và kinh tế liên quan đến Liên Hiệp Châu Âu ; tiếp đến là các nội dung hợp tác song phương. Những vấn đề gắn với Bruxelles được xem là then chốt để Việt Nam triển khai chương trình phát triển kinh tế đầy tham vọng của ông Tô Lâm. RFI : Hà Nội lấy làm tiếc quyết định của Liên Hiệp Châu Âu không phản ánh chính xác những nỗ lực của Việt Nam trong việc tăng cường tính minh bạch của hệ thống thuế. Đồng thời, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách. Những cải cách đó là gì ? Và liệu chúng có khả năng thuyết phục Bruxelles xem xét lại quyết định trong đợt đánh giá sắp tới không ? Benoît de Tréglodé : Tôi không phải là chuyên gia tài chính của OECD hay cơ quan giám sát thuế của Liên Hiệp Châu Âu, nhưng có thể khẳng định rằng việc Bruxelles đưa Việt Nam vào danh sách đen về thuế là một tín hiệu không thuận lợi cho Hà Nội. Sau những bất ổn của hệ thống tài chính, từ vụ bê bối Sacombank đầu những năm 2010 đến cuộc khủng hoảng ngân hàng giai đoạn 2011-2012, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình cải cách nhằm nâng cao tính minh bạch và tăng cường mức độ hội nhập của nền kinh tế vào hệ thống quốc tế. Trên thực tế, chính quyền Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, ngăn các tổ chức tài chính gặp khó khăn làm suy yếu toàn bộ hệ thống, tăng cường kiểm soát nợ xấu, củng cố vai trò của Ngân hàng Nhà nước và chấp nhận rộng rãi hơn các chuẩn mực quốc tế như Basel II (về tiêu chuẩn và quy định ngân hàng). Đọc thêm EU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ? Tuy nhiên, theo đánh giá của Liên Hiệp Châu Âu, các cam kết cải cách được đưa ra trong thập niên 2010 vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến việc Việt Nam bị đưa trở lại vào diện theo dõi và giám sát về thuế trong lần đánh giá tháng 02/2026. Dù vậy, khả năng Việt Nam được rút khỏi danh sách này trong thời gian tới là hoàn toàn có cơ sở. Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ Hà Nội đang nỗ lực củng cố và bảo vệ vị thế của mình thông qua việc tăng cường quan hệ với một quốc gia thành viên có tầm ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu. RFI : Trong trường hợp Liên Hiệp Châu Âu đánh giá những cải cách này là chưa đủ, như nêu ở trên. Và nếu Việt Nam vẫn nằm trong danh sách đen về thuế, điều này sẽ tác động như thế nào đến đất nước trong những năm tới, khi thực hiện mục tiêu tăng trưởng hàng năm ít nhất là 10% ? Benoît de Tréglodé : Không thể nói rằng điều này sẽ ngăn cản đầu tư của châu Âu tại Việt Nam, vì đây chỉ là một trong những yếu tố trong quan hệ song phương. Tuy nhiên, việc Việt Nam xuất hiện trong danh sách đen về thuế, với những biện pháp thuế bất lợi, sẽ tác động đến sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt các chính phủ và doanh nghiệp châu Âu. Tác động của việc này thể hiện trên nhiều phương diện. Trước hết, các giao dịch tài chính giữa Việt Nam và châu Âu có thể trở nên phức tạp, tốn thời gian hơn do phải trải qua các quy trình kiểm tra, thẩm định nghiêm ngặt hơn. Trong trường hợp phát sinh nghi ngờ, các cơ quan và tổ chức liên quan sẽ phải tiến hành xác minh kỹ hơn về nguồn gốc dòng tiền, hồ sơ thuế… Các thủ tục này sẽ làm gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp. Và đây không phải là điều tích cực cho lắm. Tác động thứ ba, tôi cho là cũng rất quan trọng, liên quan đến hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đây là điều thực sự không cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang theo đuổi chương trình cải cách kinh tế và hiện đại hóa đầy tham vọng dưới sự lãnh đạo của tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm. Chẳng hạn, một ngân hàng Pháp cần tài trợ cho doanh nghiệp Việt Nam. Họ không từ chối nhưng bộ phận quản trị rủi ro hoặc tuân thủ có thể yêu cầu áp dụng mức lãi suất cao hơn để bù đắp cho các chi phí và rủi ro phát sinh do Việt Nam nằm trong danh sách không hợp tác về thuế. Rủi ro là có nhưng không có nghĩa là sẽ bế tắc. Đối với phái đoàn Việt Nam, đây vẫn là một quan ngại lớn. Và để tăng cường quan hệ đối tác kinh tế với Liên Hiệp Châu Âu, Việt Nam cần phải thoát khỏi danh sách đen này. RFI : Như ông đề cập ở trên, Pháp là một thành viên chủ chốt , có ảnh hưởng trong Liên Hiệp C hâu Âu. Liệu Việt Nam có thể trông cậy vào sự ủng hộ của Pháp trong đợt đánh giá sắp tới của Liên Âu ? Benoît de Tréglodé : Pháp đã thể hiện rất rõ vai trò là một đối tác tin cậy và đồng hành với Việt Nam. Hiệp định EVIPA sẽ sớm được phê chuẩn. Dĩ nhiên tôi không nắm được suy nghĩ của tổng thống Pháp nhưng nhiều khả năng các cuộc gặp từ ngày 09 đến 11/09 sẽ là dịp để Việt Nam đưa ra những trao đổi, hứa hẹn, đổi lại lời hứa của Pháp hỗ trợ Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn này. Theo tôi, đây là động lực chính của Việt Nam trong chuyến công tác này và đề nghị Pháp giúp đỡ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách đen về thuế của Liên Hiệp Châu Âu vào tháng 10 tới. Đọc thêm Hiệp định Đầu tư Trung–Âu bế tắc: Việt Nam có lợi nếu Liên Âu sớm phê chuẩn EVIPA Vấn đề này cũng cần được đặt trong bối cảnh rộng hơn của chiến lược phát triển kinh tế mà ông Tô Lâm đề ra đến năm 2030. Với các mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, bất kỳ rào cản nào làm suy giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư hoặc cản trở cho tăng trưởng của Việt Nam, đều là điều không tốt. Bên cạnh đó, một định hướng quan trọng của Việt Nam là đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm giảm phụ thuộc vào các đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. Trong chiến lược này, việc củng cố và mở rộng hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, Việt Nam hiện đang đứng trước hai thách thức lớn. Thứ nhất, bảo đảm rằng Hiệp định EVIPA được các nước thành viên Liên Âu phê chuẩn càng sớm càng tốt, trong đó Pháp có thể đóng vai trò hỗ trợ đáng kể. Thứ hai, Pháp có thể giúp Việt Nam tăng cường minh bạch trong lĩnh vực tài chính và thuế để sớm được đưa ra khỏi danh sách đen của Liên Hiệp Châu Âu. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM). (1) Việt Nam hoàn thiện khuôn khổ trao đổi thông tin vì mục đích thuế.
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 38 tỷ đô la, tăng 58% so với cùng kỳ năm 2025. Năm nhà đầu tư lớn nhất đều đến từ châu Á : Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản ; riêng Singapore chiếm 35,6% tổng vốn đăng ký cấp mới (7,5 tỷ đô la). Các nhà đầu tư châu Á coi sự ổn định chính trị của Việt Nam là lợi thế, dù nước này có “những hạn chế về nhân quyền” và “chế độ chính trị mang tính chuyên chế” . Đó là nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM), trong phần trả lời cho câu hỏi “Phải chăng Việt Nam lại đang hướng sang châu Á?” trong cuốn sách Le Việt Nam . Au carrefour d'une nouvelle Asie. En 100 questions (Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới) . Vẫn theo chuyên gia Pháp, “các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng đánh giá cao việc các đối tác không đặt ra những điều kiện này và cảm thấy thoải mái hơn khi hợp tác với những quốc gia có nền văn hóa chính trị tương đồng” (2) trái với các đối tác phương Tây, vẫn thường đặt điều kiện đầu tư với hàng loạt ràng buộc về các quyền và nghĩa vụ. Trong những năm gần đây, “cho dù các nước phương Tây đã tiết chế những phát biểu về nhân quyền nhưng ảnh hưởng của họ vẫn bị suy giảm trước sức mạnh của các nền kinh tế châu Á” . Việt Nam đang chuyển hướng sang châu Á? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé. RFI : Trong tựa đề cuốn sách, ông nhắc đến “một châu Á mới”. Chính xác thì chúng ta nên hiểu “châu Á mới” này như thế nào trong bối cảnh hiện tại, và Việt Nam đang đứng ở vị trí nào tại ngã ba đường của “châu Á mới” này ? Benoît de Tréglodé : Vì sao lại là "Ngã ba đường của một châu Á mới" ? Khi đặt tên cho một cuốn sách, tiêu đề luôn cần có sức tạo ấn tượng mạnh mẽ. Chính vì vậy, nhà xuất bản Tallandier đã lựa chọn tiểu tựa đề "Ở ngã ba của một châu Á mới". Châu Á đang chuyển mình mạnh mẽ từng ngày, và hình ảnh "ngã ba đường" phản ánh cách nhìn về vị thế của Việt Nam trong bối cảnh đó. Thoạt nghe, đây có thể là một cách diễn đạt khá khái quát, nhưng lại hàm chứa nhiều ý nghĩa. Trong một thời gian dài, các đối tác chủ yếu của Việt Nam là những cường quốc phương Tây ở xa : trước hết là Pháp trong thời kỳ thuộc địa, rồi đến Liên Xô và Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam… Chỉ đến khi gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam mới thực sự tái khám phá bản sắc và không gian châu Á của mình. Từ đó, Hà Nội dần nhận ra rằng việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng hợp tác kinh tế với các nền kinh tế năng động, đang lên của Đông Á là chìa khóa để đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại và tạo thế cân bằng về địa-chính trị. Các nhà lãnh đạo Việt Nam nhanh chóng hiểu rằng cách tiếp cận dựa trên địa-kinh tế này có thể giúp đất nước tránh bị cuốn vào thế đối đầu giữa hai cường quốc : một bên là Trung Quốc - đối tác chính trị, kinh tế và chiến lược có ảnh hưởng sâu rộng và bên kia là Hoa Kỳ - quốc gia mà Việt Nam cũng phụ thuộc rất lớn về kinh tế. Vì vậy, đây cũng là cách để cân bằng tất cả các mối quan hệ với thế giới bằng cách mở cửa nền kinh tế cho các quốc gia và nền kinh tế khác. Điều này cho thấy Việt Nam không phụ thuộc vào một quốc gia duy nhất. Việt Nam có khả năng cân bằng lại các mối quan hệ kinh tế và do đó có thể ứng phó với những sức ép hoặc đòi hỏi quá mức từ các đối tác lớn. RFI : Ông vừa đề cập là Việt Nam hướng trở lại châu Á. Vậy sự tập trung trở lại vào châu Á này sẽ có ý nghĩa gì đối với Việt Nam ? Benoît de Tréglodé : Bởi vì, như tôi vừa đề cập, Việt Nam đang theo đuổi một chiến lược cân bằng rất rõ ràng. Điều đó được thể hiện qua hình ảnh một thủ tướng được cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đánh giá cao như ông Lê Minh Hưng, người luôn chủ động chào đón và khuyến khích các nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore cũng như Hoa Kỳ. Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu, và là một đối tác có ý nghĩa đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, giữa hai nước vẫn tồn tại một số bất đồng khiến Hà Nội chưa thể coi quan hệ kinh tế với Washington là hoàn toàn không có rủi ro. Chẳng hạn, Hoa Kỳ gần đây đã đưa ra mức cảnh báo cao đối với Việt Nam trong báo cáo thường niên về bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Điều này có thể dẫn đến các cuộc điều tra sâu hơn và kéo theo nguy cơ Washington áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại. Bên cạnh đó, phía Hoa Kỳ cũng nhiều lần bày tỏ quan ngại về tình trạng lao động cưỡng bức tại Việt Nam, trong khi bộ Ngoại Giao Việt Nam bác bỏ các cáo buộc này. Có thể thấy, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn phát triển mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng chịu tác động bởi những bất đồng nhỏ phản ánh tính chất đặc biệt của một quan hệ song phương được định hình bởi lịch sử và vì thế vẫn luôn chứa đựng những yếu tố nhạy cảm. Trong khi đó, các đối tác ở ASEAN và Đông Á lại mở ra cho Việt Nam những cơ hội rất lớn. Các doanh nghiệp trong khu vực hiện sở hữu năng lực cạnh tranh công nghệ ngày càng cao, cung cấp nhiều sản phẩm có thể cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn phương Tây, không chỉ về chất lượng mà còn về giá cả. Quan trọng hơn, cách thức hợp tác và văn hóa kinh doanh của các đối tác châu Á thường gần gũi với môi trường kinh doanh của Việt Nam hơn, giúp quá trình hợp tác diễn ra thuận lợi và thực dụng hơn. Thực tế, trong những năm gần đây, có thể thấy làn sóng đầu tư mạnh mẽ từ các nền kinh tế châu Á vào Việt Nam. Các nhà đầu tư này chủ yếu tập trung vào hoạt động kinh doanh, không chỉ trích bất cứ điều gì, ít gắn các quyết định đầu tư với những điều kiện hay yêu cầu mang tính chính trị. Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam, sự đa dạng hóa các đối tác kinh tế còn mang một ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Nó cho phép Việt Nam gửi đi một thông điệp rõ ràng tới các đối tác truyền thống : "Hãy nhìn xem, chúng tôi không phụ thuộc vào bất kỳ ai. Chúng tôi có thể có thể vận hành cỗ máy mà không nhất thiết cần các vị. Chúng tôi phát triển cùng nhiều đối tác khác, từ nhiều thị trường và nhiều nhà đầu tư khác nhau". Nói cách khác, tự chủ kinh tế không chỉ là một mục tiêu phát triển, mà còn là nền tảng để xây dựng tự chủ chiến lược. Đó là giấc mơ trường tồn của giới cầm quyền Việt Nam. RFI : Năm câu hỏi cuối cùng liên quan đến Việt Nam và Pháp : Liệu hai đất nước có “một tương lai chung ” không ? Benoît de Tréglodé : Đó là một câu hỏi không dễ trả lời. Đúng là phần cuối cuốn sách do Nhà xuất bản Tallandier phát hành được dành để phân tích quan hệ giữa Pháp và Việt Nam. Đây cũng là một khuôn khổ chung mà các tác giả trong bộ sách đều phải tuân thủ. Nhưng nếu nhìn vào thực tế, quan hệ giữa hai nước ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với ba thập niên trước. Sẽ không khách quan nếu không thừa nhận điều đó. Tại Pháp, cả giới chính trị lẫn dư luận vẫn chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của ý niệm về "một thế kỷ lịch sử chung" giữa hai nước. Tuy nhiên, từ góc nhìn của Việt Nam, giai đoạn ấy trước hết là thời kỳ thực dân Pháp cai trị. Việt Nam không đánh giá cao "Phần lịch sử chung" này. Pháp đã chuyển từ quan niệm lịch sử đó sang hướng thực dụng hơn. Pháp cũng đang thấy ảnh hưởng suy yếu dần tại Việt Nam. Điều này thể hiện rất rõ trên phương diện kinh tế. Vào đầu và giữa những năm 1990, các công ty Pháp từng nắm giữ gần 6% thị phần; ngày nay, con số này chỉ còn khoảng 0,4% đến 0,5% thị phần trong nước do sự bùng nổ của cạnh tranh quốc tế và sự năng động cực độ của các doanh nghiệp châu Á. Song song đó, cộng đồng Pháp ngữ cũng đã suy yếu đáng kể ở Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Nhìn tổng thể, dù xét trên phương diện kinh tế, văn hóa hay chính trị, ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam đều đã suy giảm đáng kể. Đây là thực tế cần được nhìn nhận, đồng thời cũng là yếu tố đầu tiên giúp lý giải sự thay đổi trong quan hệ giữa hai nước. Về phía Việt Nam, cách tiếp cận cũng mang tính thực dụng không kém. Hà Nội ưu tiên hợp tác với những đối tác đáp ứng tốt nhất các mục tiêu phát triển của mình. Trong bối cảnh hiện nay, nhiều nền kinh tế châu Á có khả năng đáp ứng hiệu quả hơn nhu cầu của Việt Nam về đầu tư, công nghệ, công nghiệp và tiêu dùng của tầng lớp trung lưu đang gia tăng. Đồng thời, họ cũng phù hợp hơn với những tính toán về địa kinh tế và chuỗi cung ứng trong khu vực. Chính sự thay đổi trong các ưu tiên phát triển của Việt Nam, cùng với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt từ các đối tác châu Á, đã góp phần làm giảm vai trò và ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam trong những năm gần đây. RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).
Hội nghị lần thứ 17 của Liên Hiệp Quốc (COP17) về Chống Sa mạc hóa đang diễn ra từ ngày 17 đến 28/08/2026 tại Ulan Bator, thủ đô của Mông Cổ. Hội nghị quy tụ 197 quốc gia và tổ chức khu vực nhằm giải quyết vấn đề phục hồi đất đai và chống hạn hán. COP17 về Chống sa mạc hóa diễn ra trong khuôn khổ Năm Quốc tế về Đồng cỏ và Chăn nuôi Du mục. Đồng cỏ là những vùng đất tự nhiên rộng lớn, không canh tác, chủ yếu được sử dụng để chăn thả gia súc, bao phủ hơn một nửa diện tích đất liền của Trái Đất và trực tiếp hỗ trợ sinh kế cho khoảng 500 triệu người. Chăn nuôi du mục hay chăn thả tự do cũng là một vấn đề trọng tâm tại hội nghị COP lần này. Đây là phương thức chăn nuôi quảng canh, dựa vào việc gia súc ăn cỏ tự nhiên trên đồng cỏ và thường có đặc điểm là tính di động của người chăn nuôi và đàn gia súc. Do 2026 là Năm Quốc tế Du mục, cho nên tại Triển lãm Nông nghiệp Quốc tế Paris ( 27/02 - 07/03/2026 ), Trung tâm Hợp tác Quốc tế về Nghiên cứu Nông nghiệp vì Sự Phát triển ( CIRAD ) của Pháp cùng với Cơ quan Phát triển Pháp ( AFD ) đã chọn chăn nuôi du mục là chủ đề chính, nhằm quảng bá rộng rãi hơn một hình thức chăn nuôi còn rất phổ biến ở nhiều nước, trong đó có cả Việt Nam, nhưng cho tới nay ít được giới nghiên cứu và các chính quyền để ý đến. Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Nông nghiệp, kỹ sư nông học Guillaume Duteurtre, nhà nghiên cứu tại trung tâm CIRAD, cho biết : “Năm quốc tế này là cơ hội để giới thiệu những gì chúng tôi đang làm trong lĩnh vực này cho CIRAD và AFD, và đặc biệt là tham gia vào các hoạt động vận động, chiến dịch nâng cao nhận thức và các sự kiện giúp thúc đẩy phát triển chăn nuôi du mục ở các quốc gia mà chúng tôi hoạt động. Trên hành tinh của chúng ta, chăn thả du mục hiện diện ở mọi vĩ độ. Từ các vĩ độ phía bắc với việc chăn nuôi tuần lộc, đến các vĩ độ nhiệt đới và thậm chí cả xích đạo với chăn nuôi gia súc, tức là ở vùng thảo nguyên. Đó là một hệ thống chăn nuôi gia súc và một lối sống của khoảng 500 triệu người trên toàn thế giới, dựa trên việc sử dụng thảm thực vật tự nhiên. Chủ yếu đó là chăn nuôi gia súc, động vật nhai lại, nhưng cũng bao gồm cả chăn nuôi lạc đà, và đôi khi cả ngựa nữa, như ở Mông Cổ, nơi mà ngựa có vai trò rất quan trọng. Đó là một hệ thống giúp cho nhiều cộng đồng kiếm sống từ hoạt động thường được liên kết với nông nghiệp. Chăn thả kết hợp với nông nghiệp cũng là một hệ thống cho phép sử dụng bền vững các khu vực rừng nơi động vật được chăn thả. Trong ngành chăn thả kết hợp lâm nghiệp ( sylviopastoralisme ), chúng ta cũng có thể sử dụng các sản phẩm từ rừng. Ở châu Âu, rõ ràng đây là một hệ thống quan trọng, đặc biệt là ở các vùng núi. Nhưng ở các quốc gia nhiệt đới mà CIRAD hoạt động, đây là một hệ thống có tính cấu trúc đặc biệt đối với các vùng lãnh thổ. Người ta ước tính rằng, trên toàn thế giới, đồng cỏ – những vùng đất rộng lớn với thảm thực vật tự nhiên – chiếm khoảng 45% diện tích đất liền của Trái đất. Đây là những vùng lãnh thổ khổng lồ.” Ngành chăn nuôi du mục hiện đang phải đối mặt với những thách thức nào do tác động của biến đổi khí hậu, vốn đang ngày càng làm giảm diện tích đất có thảm thực vật? Kỹ sư Guillaume Duteurtre giải thích : “Tác động của biến đổi khí hậu khác nhau tùy thuộc vào từng khu vực. Những gì đang xảy ra ở Siberia không giống với những gì đang xảy ra ngay giữa vùng Sahel ( Châu Phi ). Vì vậy, phải tính đến bối cảnh địa phương. Ví dụ chúng tôi đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu ở Tây Phi và vùng Sahel. Chúng tôi nhận thấy lượng mưa đang tăng lên do biến đổi khí hậu, nhưng được phân bổ không đồng nhất giữa các mùa và trong suốt các năm. Do đó, các hệ thống này đang chịu áp lực do sự bất thường này. Chúng tôi cũng nhận thấy nhiệt độ đang tăng lên ở khu vực Sahel. Điều này gây thêm áp lực lên vật nuôi. Do lượng mưa đang tăng lên và được phân bổ không đều, cho nên đã xảy ra một số trận lũ lụt và các hiện tượng thời tiết cực đoan, dẫn đến cái chết của động vật. Ví dụ, trong mùa mưa vừa qua ở Sahel, đã có nhiều động vật bị chết đuối. Đó là bối cảnh khí hậu chung. Vì vậy, khó khăn nằm ở việc thích ứng với những thay đổi này, đồng thời cũng thích ứng với những thay đổi khác. Thay đổi lớn đầu tiên tất nhiên là sự gia tăng diện tích đất canh tác và sự gia tăng số lượng động vật. Với sự gia tăng dân số, áp lực từ thị trường thịt và sữa, thế giới ngày càng có nhiều động vật hơn, trong khi không gian sống ngày càng ít hơn. Vì vậy, đó là hạn chế đầu tiên: có sự căng thẳng cả về đồng cỏ chăn thả và đường đi của động vật, hành lang tiếp cận sông ngòi, nguồn nước uống, hành lang tiếp cận khu vực trú ẩn, v.v. Và hiện nay còn có một sự thay đổi lớn khác đang diễn ra: Trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc về Đa dạng sinh học, các quốc gia cam kết sẽ tăng diện tích các khu bảo tồn, các khu vực bảo vệ thiên nhiên.” Riêng ở Việt Nam hiện nay, chăn thả tự do vẫn là một trong 3 phương thức chăn nuôi phổ biến cùng với chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi theo kiểu công nghiệp. Phương thức chăn thả tự do có những lợi thế, như tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp, vật nuôi cho chất lượng thịt săn chắc, thơm ngon, nhưng phương thức này lại có nhược điểm là phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, quy mô nuôi đàn chỉ ở mức vừa phải, và nhất là khó kiểm soát dịch bệnh. Vấn đề đang được đặt ra đối với những vùng vẫn còn tồn tại phương thức chăn thả như ở tỉnh Điện Biên ở miền bắc Việt Nam, đó là phải làm sao giảm thiểu xung đột giữa phương thức chăn nuôi này với việc bảo tồn đa dạng sinh học. Trung tâm CIRAD đã có những hoạt động để hỗ trợ nông dân vùng núi miền bắc Việt Nam chuyển từ chăn thả tự nhiên sang canh tác sinh thái và chăn nuôi, theo lời kỹ sư Guillaume Duteurtre : “Trung tâm CIRAD đã làm việc từ nhiều năm qua ở Việt Nam, đặc biệt là các vùng núi phía Bắc, về hệ thống canh tác sinh thái và chăn nuôi, mà theo truyền thống thường được tích hợp cao, với một ít ruộng lúa, một vài cây ăn quả, một số ao hồ và một đàn gia súc nhỏ như dê hoặc bò. Trong lĩnh vực này, chúng tôi đang hợp tác với các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam và bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn để khuyến khích các hệ thống nông nghiệp sinh thái và thúc đẩy các phương pháp quản lý môi trường để sản xuất nhưng vẫn tôn trọng môi trường. Có những thách thức đáng kể liên quan đến tình trạng xói mòn sườn dốc ở khu vực phía Bắc Việt Nam này, do việc chuyên canh cây trồng, đặc biệt là ngô và sắn. Do đó, chúng tôi đang làm việc với tất cả các đối tác về các hệ thống canh tác và chăn nuôi tích hợp để sản xuất ngô và sắn đồng thời bao gồm cả chăn nuôi. Vì vậy, lợi thế của việc chăn nuôi gia súc ở khu vực này là có thể tận dụng được diện tích rừng, rất rộng lớn do các quy định rất nghiêm ngặt về bảo tồn rừng cộng đồng và rừng sản xuất. Gia súc có thể giúp nâng cao giá trị của các khu vực rừng này khi được chăn thả, bởi vì chúng không chỉ ăn cỏ mà còn ăn rất nhiều lá cây. Và trên hết, chúng tôi sẽ cố gắng thúc đẩy việc sử dụng phân chuồng để duy trì độ phì nhiêu của đất tại các vườn cây ăn quả và các khu rừng trồng để bán. Đó là một quan hệ đối tác rất tốt và chúng tôi đang cố gắng đo lường lợi ích môi trường của các hệ thống nông nghiệp và chăn nuôi tích hợp này, vốn đã rất quen thuộc với thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng, ít nhất là những người lớn tuổi trong khu vực đó. Chúng tôi đang so sánh những lợi ích môi trường này với lợi ích kinh tế để giúp ra quyết định về các chính sách phát triển.” Trong khuôn khổ các hoạt động ở Việt Nam, trung tâm CIRAD đã tham gia vào Dự án Chuyển đổi hệ thống Nông nghiệp sinh thái và Thực phẩm an toàn (ASSET), tại 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên, từ năm 2021. Với tài trợ của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Liên Hiệp Châu Âu (EU) và Quỹ Môi trường toàn cầu của Pháp (FFEM), dự án ASSET hướng tới mục tiêu thúc đẩy hệ thống nông nghiệp sinh thái, nâng cao an toàn thực phẩm và phát triển sinh kế bền vững. Kỹ sư Guillaume Duteurtre cho biết : “ Chúng tôi làm việc trước hết với chính quyền địa phương, những người đảm trách việc hỗ trợ sự phát triển này và rất nhiệt tình tham gia vào các cơ chế tham gia, trong đó chúng tôi thảo luận với đại diện của nông dân để xác định phương pháp tiếp cận tốt nhất cho từng khu vực. Chúng tôi cũng hợp tác với lãnh đạo các tổ chức quần chúng, vốn được tổ chức rất chặt chẽ ở Việt Nam, đại diện cho nông dân, gia đình họ và các hội phụ nữ, để cố gắng nâng cao nhận thức trong cộng đồng về các hệ thống này, đôi khi phức tạp hơn hệ thống chuyên canh, độc canh, nhưng về lâu dài lại bền vững và có khả năng chống chịu tốt hơn nhiều. Chúng tôi có một số kinh nghiệm rất tốt về dự báo, tức là các kịch bản tương lai mà chúng tôi cố gắng phát triển tại địa phương ở cấp xã với các cộng đồng cư dân này để dự trù trong những năm nào chúng ta sẽ chuyên canh cây mắc ca, liệu chúng ta có thúc đẩy chăn thả gia súc trong vườn mắc ca hay không, liệu chúng ta có khuyến khích sản xuất thịt khô để thúc đẩy ngành chăn nuôi bò zebu hoặc lợn hay không, v.v. Đây là những kinh nghiệm về đổi mới thông qua hợp tác, một cách thức nghiên cứu mới đối với chúng tôi cùng với các đồng nghiệp nghiên cứu của Việt Nam. Chúng tôi vừa mới hoàn thành một dự án rất lớn, kéo dài 5 năm do Liên Hiệp Châu Âu tài trợ, tại khu vực Điện Biên, nơi chúng tôi đã hợp tác rộng rãi với nhiều sắc tộc thiểu số trong khu vực. Hiện tại chúng tôi đang xem xét các dự án nhằm thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn, tức là tái chế sinh khối thông qua các hệ thống canh tác hỗn hợp. Vì vậy, hiện tại chúng tôi đang xây dựng một dự án lớn với nhiều đối tác về kinh tế tuần hoàn, đây là một cách tiếp cận khác biệt hơn đối với phát triển nông nghiệp hiện nay, đặc biệt là ở những vùng lãnh thổ dễ bị tổn thương này.” Vào tháng 10 năm ngoái, trung tâm CIRAD cùng với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và Tổ chức GRET Viện đã tổ chức hội thảo để tổng kết việc thực hiện dự án ASSET tại Điện Biên. Các bên đánh giá dự án này đã đạt những kết quả tích cực đó là làm thay đổi phương thức sản xuất từ chăn thả, bán chăn thả sang chăn nuôi có quản lý, kiểm soát.
Việt Nam và Úc công bố ba tuyên bố chung khi kết thúc chuyến thăm cấp Nhà nước tới Úc của chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 09 đến 12/08/2026. Hai nhà lãnh đạo coi đây là minh chứng cho “sự tương đồng ngày càng lớn về lợi ích chiến lược” . Còn giới quan sát đánh giá sự kiện này là “chưa từng có tiền lệ” . Về hợp tác quốc phòng, hai nước đã trao đổi ba văn kiện hợp tác về tìm kiếm cứu nạn, biên phòng và cảnh sát biển. Trong một bài viết trên trang The Diplomat, tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nhận thấy "điểm đáng chú ý, các tuyên bố chung cho thấy Việt Nam đang thể hiện tự tin hơn khi đề cập đến "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương" như một cấu trúc khu vực" , thay vì "thận trọng" như trước đây. Điều này cho thấy "Việt Nam đang khẳng định vị thế vững chắc hơn trong cấu trúc khu vực rộng lớn này, thay vì coi đây là khái niệm chủ yếu thuộc về các bên khác" . Để hiểu hơn về quá trình hợp tác an ninh và quốc phòng giữa Việt Nam và Úc, RFI Tiếng Việt phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên ngành an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Úc và Việt Nam có mối quan hệ hợp tác quốc phòng từ khá lâu, hai nước hợp tác trong những lĩnh vực nào ? Nguyễn Thế Phương : Nhìn lại lịch sử hợp tác, quan hệ hợp tác quốc phòng Việt được đặt móng từ Bản ghi nhớ Hợp tác Quốc phòng năm 2010, cũng là 16 năm rồi. Và 8 năm sau đó, năm 2018 là Tuyên bố Tầm nhìn chung. Từ đó tới nay, quan hệ quốc phòng Việt-Úc tập trung vào một số mảng sau đây. Thứ nhất là đào tạo và huấn luyện. Đây là một trụ cột nền tảng. Rất nhiều học viên, sĩ quan Việt Nam đang học ở Học Viện Quốc Phòng Úc, không chỉ ở thủ đô Canberra, mà còn ở những cơ sở huấn luyện quốc phòng khác, nhưng tập trung chủ yếu ở Học Viện Quốc Phòng Úc. Úc là một trong những quốc gia cung cấp rất nhiều học bổng đào tạo ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh chuyên ngành quân sự và quản lý quân sự chuyên sâu cho các cán bộ sĩ quan quân đội Việt Nam. Ở chiều ngược lại, Úc họ cũng cử quân nhân sang Việt Nam học tiếng Việt và tham gia một số các khóa đào tạo về quốc phòng tại Học Viện Quốc Phòng ở Việt Nam. Trong quá trình hội nhập quốc tế, nếu so sánh các đối tác quốc phòng, ngoài Mỹ, cứ cho rằng Úc thuộc phương Tây, thì Úc hỗ trợ Việt Nam gần như là nhiều nhất, nhiều khi hơn cả Pháp. Đây là điểm trụ cột nền tảng trong quan hệ quốc phòng Việt-Úc trong khoảng 10 năm qua. Đọc thêm Việt Nam - Úc : Mối quan hệ “thực chất” dựa trên “niềm tin chính trị” Điểm thứ hai, một trong những điểm rất nổi bật, là hợp tác trong mảng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc. Úc hỗ trợ toàn diện cho Việt Nam từ vấn đề kỹ thuật, huấn luyện lực lượng cho đến logistic. Hầu như tất cả các lực lượng Việt Nam qua châu Phi để tiến hành các hoạt động gìn giữ hòa bình đều được vận chuyển bằng máy bay vận tải hàng nặng C17 Globemaster của Úc. Từ con người, trang thiết bị cho tới những vấn đề hầu cần từ châu Á tới châu Phi là Úc hỗ trợ Việt Nam cái mảng này, hầu như là duy nhất luôn. Mảng thứ ba cũng cần được nhắc tới là khắc phục hậu quả chiến tranh. Úc hỗ trợ chia sẻ dữ liệu, kỷ vật chiến tranh, công tác bản đồ để phục vụ cho quá trình rà phá bom mìn và tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tích trong chiến tranh. Và vấn đề được làm một cách thường xuyên, liên tục năm này qua năm khác, chính là tham vấn chính trị quốc phòng cả song phương lẫn đa phương, ví dụ đối thoại chính sách quốc phòng song phương Việt Nam và Úc trước đây thường là cấp thứ trưởng và phối hợp trên các diễn đàn khu vực, ví dụ Diễn đàn bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng ADMM+. Đó là bốn lĩnh vực hợp tác quốc phòng Việt-Úc đã tiến hành trong vòng 10 năm qua. RFI : Kế từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất - Đối tác Chiến lược toàn diện - mối quan hệ này được phát triển như thế nào và mở rộng ra những lĩnh vực nào ? Nguyễn Thế Phương : Khi Việt Nam và Úc nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện từ tháng 03/2024, điểm được mở rộng hợp tác là thỏa thuận gìn giữ hòa bình, trong giai đoạn hợp tác mới thì sẽ không đơn lẻ mà sẽ mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Trước đây lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam tham gia vào hai mảng : quân y và công binh. Đây vốn là hai mảng phi tác chiến và Việt Nam, từ hồi chiến tranh tới giờ, có rất nhiều kinh nghiệm và khả năng thực hiện một cách tốt nhất. Từ 2024 tới nay, Việt Nam và Úc sẽ mở rộng lĩnh vực đó, không chỉ công binh, y tế mà còn cả cảnh sát. Tức là công an Việt Nam tham gia vào gìn giữ hòa bình. Úc cũng sẽ tham gia vào quá trình huấn luyện lực lượng đó. Hợp tác quân chủng giữa hai bên cũng được mở rộng, gia tăng hoạt động giao lưu trao đổi kinh nghiệm cụ thể, phòng không, không quân, đặc biệt là biên phòng và cảnh sát biển. Bởi vì Việt Nam ưu tiên sử dụng những lực lượng phi tác chiến trong bối cảnh mở rộng ngoại giao quốc phòng, trong đó biên phòng và cảnh sát biển là hai lực lượng có thể đi đầu trong mảng này. Ngoài ra, Việt Nam còn mở rộng tham gia vào một số cuộc tập trận đa phương mà Úc tham gia. Đọc thêm Những kỳ vọng về quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện" giữa Việt Nam và Úc Và cuối cùng là mở rộng sang lĩnh vực an ninh phi truyền thống, ví dụ an ninh hàng hải và thúc đẩy luật pháp quốc tế, tôn trọng UNCLOS 1982, tăng cường nhận thức hàng hải ở Biển Đông, tăng cường hợp tác trong việc thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát Việt Nam và Úc, có thể cải thiện an ninh mạng và công nghiệp quốc phòng. Đây là một mảng mới tại vì thật ra công nghiệp quốc phòng Úc, tính đến thời điểm hiện tại cũng không nổi bật lắm so với một số nước phát triển khác như Ấn Độ, nhưng vẫn có những điểm mà hai bên có thể hợp tác được. Tiếp theo là phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và an ninh biên giới cũng được hai bên đẩy mạnh. Và cuối cùng là cứu hộ cứu nạn vì biến đổi khí hậu. Trong khoảng thời gian gần đây, hai bên tăng cường hợp tác mảng này, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, cải thiện năng lực cứu hộ cứu nạn cho cả hai nước. RFI : Nhân chuyến công du nước Úc của ông Tô Lâm, hai nước cũng đã ký biên bản ghi nhớ về hợp tác thực thi pháp luật hàng hải, tăng cường hợp tác quân sự. Vậy trong thời gian tới, sự hợp tác này sẽ được phát triển theo những hướng nào ? Nguyễn Thế Phương : Hai nước đã trao đổi các văn kiện hợp tác quan trọng, nhất là một biên bản ghi nhớ - MOU về hợp tác thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát biển và biên phòng Việt Nam với lại lực lượng quản lý biên giới Úc. Thứ hai là tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng cập nhật, xác lập một bước phát triển nguyên tính bản lề về định hướng quốc phòng giữa Việt Nam và Úc trong thời gian tới. Ở đây sẽ có một số điểm như sau. Thứ nhất là nâng cấp năng lực và thực thi pháp luật hàng hải. Trọng tâm sẽ là tăng cường những hoạt động giao lưu giữa hai bên, và đặc biệt là chia sẻ về khả năng hợp tác tác chiến và vận hành giữa lực lượng cảnh sát biển, biên phòng Việt Nam và lực lượng quản lý biên giới Úc, chia sẻ thông tin tình báo hàng hải, phối hợp tuần tra chống đánh bắt cá trái phép và đặc biệt là xử lý di dân bất hợp pháp. Cụ thể, Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực giám sát không gian biển, thông qua các chương trình trong khuôn khổ đối tác hàng hải Úc và Đông Nam Á. Và Úc cũng sẽ giúp cho Việt Nam giám sát tốt hơn các hoạt động ở vùng biển tranh chấp trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế. Đọc thêm Hợp tác an ninh hàng hải giữa Úc với Việt Nam sẽ “không phô trương” như với Philippines Điểm thứ hai là cứu hộ cứu nạn và hỗ trợ thảm họa, cũng sẽ được đẩy mạnh trong tương lai, liên quan tới hoạt động huấn luyện và diễn tập chung. Tại sao điểm này là điểm khá quan trọng ? Bởi vì quân đội Việt Nam và quân đội Úc cũng sẽ mở rộng quy mô các cuộc diễn tập đa phương và tương tác giữa các quân binh chủng. Trong tương lai, Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng tham gia vào các cuộc diễn tập do Úc chủ trì. Ví dụ cuộc diễn tập Hải Quân đa phương Kakadu, Việt Nam đã tham gia trong hai năm 2024, 2026. Việt Nam cũng sẽ tiếp tục cử quan sát viên tới cuộc diễn tập Talisman Sabre. Trong tương lai, tần suất cũng như là nội dung tham gia sẽ được mở rộng ra thêm. Và tương tác quân binh chủng cũng sẽ tập trung chuyên sâu vào các mảng mà hai bên có thế mạnh, ví dụ như quân y, công binh và chống khủng bố. Ngoài ra, còn có một mảng là phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và an ninh phi truyền thống thì sẽ tập trung vào phòng chống tội phạm mạng và lừa đảo trực tuyến, an ninh biên giới. Bộ Quốc Phòng, bộ Công An Việt Nam sẽ hợp tác với bộ Nội Vụ và Cảnh sát Úc trong chống buôn lậu, rửa tiền, ma túy. Tóm lại, hướng đi tương lai của hợp tác quốc phòng Việt-Úc sẽ bám sát vào tinh thần của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên. Và ở đây, Việt Nam nhấn mạnh tới điểm là không hướng tới “liên minh quân sự” chống lại bên thứ ba và hợp tác là nhằm nâng cao năng lực tự chủ của cả hai bên và đóng góp vào ổn định và hòa bình của toàn bộ khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. RFI : Giới chuyên gia và truyền thông phương Tây đều nhắc đến Trung Quốc và Hoa Kỳ trong sự gia tăng hợp tác an ninh giữa Úc và Việt Nam cho dù không trực tiếp nêu tên. Mỹ và Trung Quốc đóng vai trò như thế nào trong chiến lược tăng cường hợp tác giữa Úc và Việt Nam ? Nguyễn Thế Phương : Cả hai nước đều là hai nước lớn. Và quá trình cạnh tranh hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương luôn là một yếu tố cấu trúc nền tảng trong bất kỳ mối quan hệ an ninh quốc phòng nào, không chỉ của Việt Nam và Úc mà còn của tất cả cặp song phương khác ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Ở đây, Trung Quốc là yếu tố tạm gọi là “động lực thúc đẩy chính” cho quan hệ Việt-Úc, thì Trung Quốc tạo nên “đồng quy chiến lược” giữa Việt Nam và Úc. Cả Úc và Việt Nam đều là những quốc gia phụ thuộc vào các tuyến đường hàng hải thông qua biển, ở đây là Biển Đông. Và sự gia tăng độ hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông làm cho cả hai bên lo ngại về nguy cơ luật pháp quốc tế bị xói mòn, tạo ra một xung đột không đáng có ở khu vực có tầm quan trọng với giao thương quốc tế là rất cao. Hợp tác an ninh hải sẽ giúp cả Việt Nam và Úc nâng cao năng lực giám sát, cũng như là thực thi pháp luật trên biển. Thứ hai là yếu tố gọi là hedging - phòng ngừa rủi ro. Đối với Úc, họ mong muốn mở rộng quan hệ mạng lưới an ninh với các quốc gia tầm trung ở Đông Nam Á mà Việt Nam là một trong những quốc gia tầm trung quan trọng nhất ở Đông Nam Á. Đối với Việt Nam, tăng cường quan hệ với Úc sẽ giúp Việt Nam đa dạng hóa đối tác và nâng cao năng lực tự chủ quốc phòng mà không tạo ra đối đầu trực tiếp với Bắc Kinh. Điểm này được Việt Nam gọi là “cân bằng mềm”. Tăng cường hợp tác với Úc, ở đây không nói về Mỹ, để tạo một tấm đệm để Việt Nam đa dạng hóa nguồn lực. Và cuối cùng, điểm này tương đối mới ở thời điểm hiện tại, đó là giảm thiểu rủi ro chuỗi cung ứng. Hợp tác với Úc không chỉ lĩnh vực quốc phòng và thuần an ninh, mà nó còn mở ra sang lĩnh kinh tế, cụ thể là khoáng sản thiết yếu, chuỗi cung ứng, làm tránh phụ thuộc quá lớn vào thị trường hay là tránh bị gây sức ép từ phía Trung Quốc. Đó là những lý do khiến cho Trung Quốc là chất xúc tác để Việt Nam và Úc có thể nhận ra được lợi ích chung của cả hai bên trong việc tăng cường hợp tác. Đọc thêm Từ AUKUS đến Bộ Tứ : Gọng kềm Mỹ đang siết lại với Trung Quốc ở Thái Bình Dương Đối với Mỹ, Mỹ sẽ xem đó là một điểm tựa mang tính cấu trúc. Từ Chiến tranh Thế thứ hai cũng như từ Chiến tranh lạnh tới nay, Mỹ là nhà cung cấp an ninh (security provider) rất lớn cho khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Và nó thể hiện thông qua việc Úc là đồng minh lâu đời của Mỹ. Úc nằm trong liên minh AUKUS, trong nhóm Bộ Tứ QUAD, nằm trong liên Minh Mỹ-Úc-New Zealand - ANZUS. Việc Úc chủ động thắt chặt an ninh với Việt Nam phù hợp với chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ. Washington đang cố gắng xây dựng một mạng lưới đối tác tự chủ và có khả năng tự bảo vệ luật lệ ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương mà Mỹ không cần phải can thiệp quá sâu. Điểm thứ hai là mở rộng quan hệ song phương Việt-Úc có thể tạo ra một dư địa cho Hà Nội. Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ năm 2023, một năm sau là nâng cấp quan hệ với Úc lên đối tác chiến lược toàn diện. Và điều này cho thấy Việt Nam đang chủ động định vị lại bản thân trong một không gian chiến lược bắt đầu đa cực, trong đó các cường quốc tầm trung nổi lên và có tiếng nói lớn hơn so với trước đây. Và quan hệ song phương vững chắc với Úc cho phép Việt Nam tiếp cận các nguồn lực an ninh, huấn luyện kỹ thuật mang chuẩn mực phương Tây mà không bị gán nhãn là đi theo liên minh quân sự với Mỹ ở một mức độ nhất định, ở thời điểm này đối với Việt Nam là tương đối quan trọng. Điểm cuối cùng mà cả hai bên đều thể hiện là Úc và Việt Nam đều lo ngại về sự thiếu ổn định trong chính sách của Mỹ. Cả Việt Nam và Úc đều nhận thức được là chính sách đối ngoại của Washington dưới thời Donald Trump khá bất định. Và hợp tác song phương Úc-Việt là một cách để hai nước tự xây dựng mắt xích an ninh khu vực, mà không hoàn toàn phụ thuộc vào sự can thiệp của Mỹ và những gì mà Mỹ làm ở khu vực cũng như là những khu vực khác. Mỹ và Trung Quốc thúc đẩy Việt Nam và Úc tới gần với nhau hơn, nhưng sự hiện diện của cả hai siêu cường cũng đặt ra một số ranh giới rõ ràng cho hợp tác an ninh Việt-Úc. Thứ nhất là tư duy tránh chọn bên của Việt Nam. Đây là một hằng số cố định trong tư duy chiến lược của Việt Nam. Bởi vì Việt Nam luôn nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng “bốn Không” và trường phái “ngoại giao cây tre”. Tăng cường hợp tác với Úc để bảo về chủ quyền chứ không chọn Úc, Mỹ để chống Trung Quốc. Thứ hai là ngay cả Úc cũng có một sự cân bằng thực dụng. Phía Úc nhận thức rõ được điểm này của Việt Nam. Thực tế mà nói trong những thảo luận song phương, Úc cũng không ép Việt Nam phải cam kết theo quy tắc “đồng minh” kiểu phương Tây mà tập trung vào nâng cao năng lực thực chất hơn, ví dụ những mảng mà cả hai bên, ở thời điểm hiện tại, với mức độ quan hệ hiện tại, đều thoải mái trong việc trao đổi thông tin, trao đổi quân sự. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
Như mọi năm, ngày 07/06/2026 là Ngày An toàn Thực phẩm Thế giới, một dịp để các nước thúc đẩy các giải pháp hướng tới một hệ thống thực phẩm an toàn hơn cho người dân. Nhân ngày này, bà Angela Pratt, trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới WHO tại Việt Nam, đã kêu gọi Việt Nam “tiếp tục tăng cường các thực hành vệ sinh tốt và chế biến, bảo quản thực phẩm an toàn, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, mở rộng ứng dụng các công nghệ truy xuất nguồn gốc thực phẩm, tạo thêm bằng chứng khoa học thông qua nghiên cứu và thúc đẩy các chính sách hiệu quả hơn.” Đối với Việt Nam, một trong những vấn đề đang được đặt ra ngày càng cấp thiết đó là bảo đảm an toàn thực phẩm tại các chợ truyền thống. Hầu như ai cũng biết là thịt cá được bán tại các chợ truyền thống khó mà bảo đảm được vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng vì giá rẻ hơn siêu thị nên nhiều người có thu nhập thấp vẫn phải mua tại đây. Vệ sinh an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống ở Việt Nam cũng là một lĩnh vực nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI), đặc biệt là về thịt heo ở các chợ này. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 06/07/2026, ông Nguyễn Việt Hùng, giám đốc khu vực châu Á của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI), cho biết: " Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế ILRI ở Việt Nam làm việc rất chặt chẽ với các đối tác ở Việt Nam, chủ yếu là các cơ quan nghiên cứu thuộc bộ Nông Nghiệp và bộ Y Tế. Những đóng góp của chúng tôi chủ yếu là làm nghiên cứu để tìm ra được bằng chứng, để biết được những vấn đề ô nhiễm thực phẩm xảy ra ở đâu là quan trọng nhất và phát triển những biện pháp can thiệp đơn giản và giá rẻ để cải thiện được tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống và ở các lò giết mổ nhỏ lẻ ở Việt Nam. Hy vọng là những bằng chứng và những sáng kiến về cải thiện an toàn thực phẩm sẽ được nhân rộng ra ở các địa phương. Hiện tại chúng tôi có làm những can thiệp ở năm tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội, sau đó là Huế, Cần Thơ và Đồng Nai, tập trung vào các chợ truyền thống." Về tình hình vệ sinh thực phẩm tại các chợ truyền thống ở Việt Nam, ông Nguyễn Việt Hùng ghi nhận: “Ở Việt Nam cũng như các nước đang phát triển nói chung, phần lớn thực phẩm được bán ở các chợ truyền thống. Trong nghiên cứu của chúng tôi ở các nước đang phát triển, chủ yếu là các nước ở châu Á và các nước châu Phi, chợ truyền thống thực ra là một từ chung để chỉ những nơi mà người ta thường bày bán những thực phẩm tươi sống và một trong những đặc trưng chính ở các chợ này là tình hình vệ sinh không được tốt, cũng như cơ sở hạ tầng thường không được tốt để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Nó khác một chút so với những hệ thống siêu thị, nơi mà các cơ sở hạ tầng được đảm bảo tốt hơn cho an toàn thực phẩm. Về các chợ truyền thống ở Việt Nam, chính sách của Việt Nam là phần lớn các chợ đều được các cơ quan quản lý địa phương để ý và người ta thành lập các ban quản lý chợ. Tuy nhiên, những vấn đề mất an toàn thực phẩm vẫn thường xuyên diễn ra. Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế ILRI cùng với các đối tác ở Việt Nam tập trung nghiên cứu về vấn đề mất an toàn thực phẩm chủ yếu ở chuỗi giá trị thịt heo, bởi thịt heo là một thực phẩm mà người Việt Nam sử dụng rất nhiều. Phần lớn thịt heo ở Việt Nam là được bày bán ở các quầy chợ truyền thống này. Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng các mẫu thịt lợn được thu thập ở các chợ truyền thống có tỷ lệ nhiễm vi khuẩn gây bệnh như Salmonella còn tương đối cao: Từ khoảng 30 đến 70% số mẫu được thu thập ở các chợ truyền thống là có vi khuẩn gây bệnh Salmonella. Đấy là ở chợ truyền thống. Nếu quay ngược lại chu trình sản xuất, về các lò mổ ở Việt Nam, ngoài một số nhỏ là lò mổ tập trung hiện đại, phần lớn là những lò mổ truyền thống. Người ta giết mổ thịt lợn ở dưới sàn nên điều kiện vệ sinh không được tốt và quá trình lây nhiễm chéo vi sinh vật trong các lò mổ đó cũng thường xuyên diễn ra. Và cuối cùng, khi chúng ta có thịt lợn từ lò mổ mang lên chợ bày bán cho người dân mang về ở hộ gia đình tiêu thụ, việc có đảm bảo được an toàn thực phẩm hay không lại phụ thuộc vào khâu chế biến thực phẩm ở các hộ gia đình. Chúng tôi đã làm nghiên cứu tính ra được một số nguy cơ lây nhiễm chéo ở hộ gia đình và cũng đưa ra những khuyến cáo làm thế nào để chuỗi sản xuất thịt heo ở Việt Nam nói chung được cải thiện tốt hơn qua việc cải thiện vệ sinh từ trang trại đến lò mổ, đến chợ và đến việc chế biến thực phẩm, cũng như tiêu thụ tại hộ gia đình. Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng ô nhiễm thực phẩm chủ yếu là ở các quầy thịt heo ở Việt Nam, nếu không được xử lý ở góc độ vệ sinh và không được nấu chín trước khi tiêu thụ, thì nó sẽ gây ra những bệnh truyền lây qua thực phẩm cho người tiêu dùng. Vi khuẩn Salmonella là một trong những vi khuẩn gây bệnh chính ở các loại thịt nói chung và đặc biệt là thịt lợn, sẽ gây ra bệnh tiêu chảy và những bệnh liên quan nếu không được được xử lý. Nghiên cứu cách đây mấy năm trước của chúng tôi ước lượng khoảng 17% số người ăn thịt heo có thể có vấn đề về sức khỏe, bị ốm do việc chế biến thịt heo ở Việt Nam, do lây nhiễm chéo ở hộ gia đình." Theo báo chí trong nước, vào đầu tháng 6 vừa qua, chợ Tân Mỹ, thuộc phường Tân Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh đã khai trương 2 quầy thịt đầu tiên tại chợ truyền thống được phép sử dụng bộ nhận diện thương hiệu "Tick xanh trách nhiệm". Cho tới nay, các sản phẩm mang nhãn "Tick xanh trách nhiệm" chủ yếu được phân phối qua hệ thống siêu thị và cửa hàng tiện lợi. Kế hoạch theo dự kiến sẽ được mở rộng ra hơn 400 chợ truyền thống trên toàn TP Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Việt Hùng đánh giá về kế hoạch này: "Tôi nghĩ đây là một việc làm rất tốt của Thành phố Hồ Chí Minh. Thực ra khi làm nghiên cứu ấy thì chúng tôi thấy ở các chợ đầu mối, người ta quản lý tương đối tốt bằng việc truy xuất nguồn gốc, tức là những lô thịt heo được nhập vào các chợ bán thực phẩm ở Thành phố Hồ Chí Minh, như ở chợ Bình Điền mà chúng tôi theo dõi, đều có hệ thống kiểm soát để biết được thịt heo đó đến từ trang trại nào, đến từ lò mổ nào và có được cấp giấy phép lưu hành hay không. Việc truy xuất nguồn gốc giúp cho chúng ta đảm bảo được an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam. Tôi nghĩ đây là một mô hình tốt nên được nhân rộng. Tuy nhiên, ở những chợ nhỏ lẻ hơn thì tôi không biết có áp dụng được như ở các chợ đầu mối lớn hay không. Luật An toàn Thực phẩm lần đầu tiên được công bố, đưa vào hoạt động năm 2010 và sau 16 năm triển khai thì đang được nhà nước Việt Nam xem lại. Theo tôi được biết là sắp tới đây Luật An toàn Thực phẩm sửa đổi sẽ được thảo luận ở Quốc Hội và nhấn mạnh rất nhiều đến vấn đề truy xuất nguồn gốc trong an toàn thực phẩm." Nhưng theo ông Nguyễn Việt Hùng, các biện pháp được đưa ra để cải thiện tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm phải phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương: "Việt Nam có chính sách rất rõ ràng về tiêu chuẩn của những chợ, những quầy bán thịt. Ví dụ, bàn phải cao bao nhiêu so với mặt đất, cấu trúc ra sao, để góp phần bảo đảm được an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, trong thực tế khi chúng tôi đi làm nghiên cứu hoặc thăm các chợ truyền thống thì phần lớn ở các chợ, người ta chưa chấp hành những quy định của nhà nước về an toàn thực phẩm. Với một cái thực hành trên diện rộng như thế thì kỳ vọng mọi người đều thay đổi một cách toàn diện ngay lập tức là rất khó và không thực tế, trong hoàn cảnh Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung. Chính vì thế, khi triển khai những chính sách như thế này, tôi nghĩ là phải cần một sự can thiệp đồng bộ và phải có sự hỗ trợ từ phía nhà nước để nâng cấp các chợ sao cho có điều kiện vệ sinh tốt hơn, có cấu trúc hạ tầng tốt hơn, chẳng hạn phải có hệ thống nước cho người ta rửa tay, hoặc là phải tập huấn cho những hộ bán thịt biết thực hành vệ sinh như thế nào cho tốt. Chúng tôi có đề xuất những can thiệp như một cái kiềng ba chân, tức là khi muốn cải thiện điều kiện an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống ở Việt Nam, đặc biệt là các quầy bán thịt heo, thì có ba vấn đề. Thứ nhất, nói gì thì nói, chúng ta phải có những điều kiện và cơ sở vật chất để người ta thực hành được vệ sinh, tức là phải có quầy bán thịt bằng những mặt inox để việc lau rửa được thuận tiện. Thứ hai là phải có nước, có xà phòng sát khuẩn. Thứ ba là chúng ta phải tập huấn thực hành vệ sinh tốt cho những người bán thịt ở các quầy chợ đó. Khi mọi người, người tiêu dùng, người bán thịt, người chăn nuôi, nhìn thấy cái lợi trong hành động của mình thì tất cả mọi thứ sẽ tốt lên. Cuối cùng, những nhà làm chính sách và những nhà quản lý các chợ đó hoặc ở cấp địa phương cũng phải tạo điều kiện cho những người bán thịt cũng như những người tham gia chuỗi sản xuất và người tiêu dùng có điều kiện thực hành Tất cả những quy định pháp luật đó phải phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương. Bởi vì nếu mà chúng ta đặt ra những quy định quá cao, không phù hợp với điều kiện thực tế và thiên nhiều hơn vào việc phạt những người làm sai, thì đó không phải là một giải pháp có thể áp dụng được rộng rãi và làm thay đổi được gốc rễ hiện tại của an toàn thực phẩm ở Việt Nam."
Tổng thống Mỹ Donald Trump có sẽ đến thăm sân golf mang tên ông ở Hưng Yên vào năm 2027 nhân Hội nghị APEC tại Phú Quốc tháng 11? Dự án sẽ kịp hoàn thành đúng thời điểm, do đang bị chậm tiến độ vì bất đồng giữa người dân và chính quyền về giải phóng mặt bằng? Sân golf Khoái Châu - Trump International Hưng Yên, trị giá khoảng 1,5 tỷ đô la, được cho sẽ góp phần tăng trưởng du lịch hạng sang - lĩnh vực được Việt Nam tập trung đầu tư từ nhiều năm nay. Trong 9 năm liên tiếp (2017-2025), Việt Nam được World Golf Awards vinh danh là “Điểm đến golf tốt nhất châu Á” và hai lần được trao danh hiệu “Điểm đến golf tốt nhất thế giới” năm 2019 và 2021. Doanh thu từ du lịch golf tăng gần gấp đôi trong vòng 3 năm, từ 600 triệu đô la năm 2022 lên hơn 1 tỷ đô la năm 2025. Cho dù hiện chiếm khoảng 2,7% tổng doanh thu du lịch quốc gia, theo cục trưởng Cục Du Lịch Việt Nam, nhưng các nhà hoạch định quyết định biến golf thành động lực mới đưa du lịch Việt Nam vươn tầm quốc tế. Số sân golf sẽ tăng lên thành 200 vào năm 2030, hơn gấp đôi so với con số 80 sân đạt chuẩn quốc tế hoạt động năm 2025. Ông Spencer Robinson, trưởng bộ phận Truyền thông, Liên đoàn Golf Châu Á - Thái Bình Dương, cũng bất ngờ trước những mục tiêu đầy tham vọng của Việt Nam khi trả lời hãng tin Mỹ AP : “Hành trình quả là đáng kinh ngạc khi Việt Nam đạt được những thành tựu như hiện nay trong một thời gian ngắn. Tôi đi khắp thế giới và mọi người đều nói về sự phát triển của golf ở Việt Nam. Tôi nghĩ có thể nói đây là thị trường golf sôi động nhất thế giới hiện nay. Rất nhiều kiến trúc sư sân golf muốn đến đây, các nhà sản xuất gậy golf, bất cứ ai trong ngành công nghiệp golf đều rất quan tâm, vì họ thấy sự phát triển của Việt Nam. Họ nghe nói chính phủ muốn xây dựng thêm 100 sân golf nữa trong 5, 10 năm tới” . Đọc thêm Du lịch Việt Nam đủ nguồn lực chuyên môn cao để hướng đến khách “giàu” ? Du lịch golf thúc đẩy kinh tế địa phương Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, du lịch golf được xác định “là một sản phẩm du lịch cao cấp, một ngành kinh tế văn hóa thể thao du lịch tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng xanh, phát triển vùng và quảng bá hình ảnh quốc gia” . Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng chuỗi điểm đến golf mang bản sắc Việt Nam, đào tạo nhân lực, tổ chức sự kiện quốc tế. Thế mạnh của Việt Nam là có hơn 3.000 km đường bờ biển và cảnh quan đa dạng, được coi là những điều kiện tự nhiên lý tưởng cho một sân golf đẹp, thú vị trên địa hình nhấp nhô. Các khu vực sân golf được trải dài từ bắc xuống nam và phát triển mạnh mẽ ở miền trung với lợi thế về địa hình kết hợp đồi núi và biển, như trường hợp sân golf Hoiana Shores, theo giải thích của tổng giám đốc Wee Peng Siong : “Nhà thiết kế sân golf Robert Trent Jones, Jr. đã sử dụng khẩu hiệu “Bản giao hưởng của golf”, có nghĩa là mọi thứ đều hòa quyện với thiên nhiên và nhịp điệu của thiên nhiên. Giống như một bản giao hưởng vậy. Dựa trên ý tưởng đó, người chơi golf có thể quan sát các cồn cát và địa hình, độ nhấp nhô của nó. Tất cả đều được bố trí một cách tỉ mỉ” . Dù đi sau nhiều nước về du lịch golf nhưng Việt Nam đang rút ngắn khoảng cách trong thời gian rất ngắn, một phần nhờ thu hút được những tên tuổi lớn trong lĩnh vực kiến trúc golf thế giới (Like Donald, Colin Montgomerie, Sir Nick Faldo, Greg Norman và Robert Trent Jones Jr., hiện nằm trong trong liên minh Việt Nam Golf Coast, VGC). Hệ thống gồm BRG Danang Golf Resort, Montgomerie Links, Ba Na Hills, Laguna Lăng Cô và Hoiana Shores đã giúp Đà Nẵng - Hội An được vinh danh là “ Thành phố golf tốt nhất châu Á 2025” . Ngoài ra, để tiếp tục khẳng định thương hiệu và nâng vị thế của du lịch golf Việt Nam, huyền thoại golf người Úc Greg Norman tiếp tục được bổ nhiệm làm đại sứ Du lịch Việt Nam nhiệm kỳ 2025-2030. Theo bộ Văn hóa , Thể thao và Du lịch Việt Nam, khách chơi golf có mức chi tiêu trung bình gấp 6 lần so với khách thường. Để đáp ứng nhu cầu của khách, xung quanh sân golf là một khu phức hợp dịch vụ, khách sạn sang trọng, nhà hàng, spa và thương mại cao cấp, theo nhận định của Nguyễn Đức Long, một người chơi golf : “ Họ (Hoiana) có 4 khách sạn , hơn 1.000 phòng, đầy đủ cơ sở vật chất về golf để cho mình có một gói trải nghiệm khác hơn so với những sân khác. Vì ngành golf phát triển như vậy thì chắc chắn đây là một lựa chọn rất là thú vị để mọi người có thể tới trải nghiệm ” . Đọc thêm Hưng Yên muốn giảm tiền đền bù trong dự án sân golf của Trump Organization Không chỉ chơi golf, họ còn có nhu cầu trải nghiệm du lịch tại điểm đến. Và đây là điểm giúp thúc đẩy nền kinh tế địa phương, góp phần tạo việc làm, đặc biệt là ở các khu vực ngoài các trung tâm đô thị lớn, theo nhận định của ông Vũ Nguyên, tổng thư ký Hiệp hội Golf Việt Nam (VGA) : Khi một sân golf được phát triển ở một địa phương, nó giúp thúc đẩy nền kinh tế tại địa phương đó và cũng sẽ tạo ra hàng ngàn việc làm. Chính vì vậy, những năm gần đây, golf được đón nhận rất nhiều. Những khu vực x ung quanh sân golf, các hệ thống từ nhà hàng cho đến khách sạn cũng được phát triển và giúp cho ngành du lịch nói chung . Đứng đầu số lượng khách nước ngoài đến du lịch golf tại Việt Nam năm 2025 là Trung Quốc (3,8 triệu lượt, tăng 43% nhờ chi phí hợp lý và khoảng cách địa lý gần), tiếp theo là Hàn Quốc (3,2 triệu lượt, đóng góp lớn nhất vào doanh thu cao cấp). Ngoài ra còn có du khách golf Úc, Nhật Bản, Đài Loan, cùng với lượng khách mới nổi từ châu Âu và Ấn Độ. Việt Nam cũng muốn trở thành điểm đến không thể thiếu của khoảng 1,9 triệu golf thủ di chuyển trên toàn cầu hàng năm. Ngoại giao sân golf Bên cạnh giá trị kinh tế và du lịch, golf còn được sử dụng làm công cụ ngoại giao, đặc biệt là dưới thời tổng thống Mỹ Donald Trump. Sean Fergusson, thư ký golf và kinh doanh tại "Fore" Business (Anh), được trang Franceinfo trích dẫn, phân tích : Donald Trump tận dụng những cơ hội này để truyền đạt thông điệp đến người đối thoại. Và các chính trị gia khác nghĩ rằng nếu họ có thể gặp ông ấy trong một buổi chơi golf, ông Trump có thể sẵn sàng thảo luận về những chủ đề mà ông ấy sẽ không nói trước ống kính máy quay . Nhật Bản là một ví dụ tiêu biểu về khai thác “ngoại giao golf” trong quan hệ với Mỹ. Ngày 11/02/2017, khoảng hai tuần sau khi ông Trump nhậm chức tổng thống, thủ tướng Shinzo Abe đến Florida, cùng chơi golf 18 hố nhằm củng cố quan hệ song phương vì ông Trump luôn chỉ trích đồng minh Đông Á chi ít cho quốc phòng. Sau buổi chơi, ông Trump cho biết đã “hiểu” thủ tướng Abe hơn. Sau khi ông Abe mất, Tokyo từng nhờ tỉ phú Masayoshi Son, nhà sáng lập kiêm tập đoàn công nghệ SoftBank và là bạn chơi golf thân thiết của ông Trump, để tiếp cận ông. Thủ tướng đương nhiệm Takaichi còn tặng tổng thống Trump một cây gậy golf của cố thủ tướng Abe. Đọc thêm Dự án tỷ đô tại quê nhà của tổng bí thư Tô Lâm, lá bài trói buộc Trump của Việt Nam ? Trong nhiệm kỳ hiện nay, ông Trump thường xuyên “bàn đại sự” trên sân golf. Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb, một người chơi golf, trở thành “cầu nối” giữa tổng thống Mỹ và châu Âu. Chơi golf với ông Trump được xem là nằm trong “vòng thân cận” với lãnh đạo Mỹ. Việt Nam chưa có cơ hội này. Tuy nhiên, ít ngày trước ngày lễ nhậm chức của tổng thống thứ 47, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, chủ tịch hãng hàng không Vietjet, đến tư dinh Mar-a-Lago và được ông Trump hướng dẫn chơi golf. Chuyến đi được công bố là hoạt động của Vietjet nhưng không rõ có nhận được sự ủy nhiệm nào đó từ chính quyền hay không. Nông dân trả phí cho ngoại giao sân golf Trump International Hưng Yên ? Liệu sân golf ở quê hương tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm có thể trở thành cầu nối với chính quyền Trump ? Tháng 09/2024, trong thời gian tranh cử tổng thống, ông Donald Trump dự lễ ký thỏa thuận hợp tác xây dựng giữa Trump Organization với Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc (KBC) tại Florida. Tháng 06/2025, bản kê khai tài chính của tổng thống Donald Trump ghi nhận khoản thu 5 triệu đô la từ nhượng quyền thương hiệu. Giới quan sát cho rằng dự án trở thành phương tiện ngoại giao của Hà Nội trong bối cảnh tổng thống Trump liên tục chỉ trích thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ, lên mức kỷ lục 178,2 tỷ đô la năm 2025 (chỉ sau trung Quốc) và đe dọa tăng thuế. Khi mức thặng dư đạt 55 tỷ đô la năm 2019, Việt Nam đã bị ông Trump gọi là “kẻ lạm dụng thương mại tồi tệ nhất” . Tuy nhiên, trả lời báo tài chính Anh Financial Times, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Giang, Viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore), nhận định : Tính biểu tượng là điều quan trọng nhưng nó sẽ không thể giải quyết tất cả những mối quan ngại cũng như những vấn đề mang tính cơ cấu giữa Việt Nam và Mỹ. Sân golf Trump International Hưng Yên được khởi công chiều 21/05/2025 với sự tham dự của thủ tướng Phạm Minh Chính cùng quan chức chính phủ, đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc E. Knapper và ông Eric Trump, con trai tổng thống Trump, phó chủ tịch Trump Organization cùng phu nhân. Theo báo Chính phủ, “d ự án khu phức hợp đô thị, du lịch sinh thái và sân golf Khoái Châu có diện tích gần 1.000 ha và tổng mức đầu tư trên 1,5 tỷ đô la, bao gồm hệ thống sân golf VIP 54 hố, khu nghỉ dưỡng, biệt thự cao cấp, quần thể đô thị hiện đại và các tiện ích theo tiêu chuẩn quốc tế” . Đọc thêm Sân gôn Trump tại Việt Nam : Đất nông dân đổi lấy dự án gây tranh cãi Tuy nhiên, sau một năm, dự án bị chậm tiến độ do vướng mắc về đền bù giải phóng mặt bằng. Nhiều hộ dân cho biết mức bồi thường 80.000 đồng/m2, cùng với 240.000 đồng/m2 để “chuyển đổi nghề” (tổng cộng 320.000/m2) là quá thấp, không như lời hứa “bồi thường thỏa đáng” của thủ tướng Phạm Minh Chính tại lễ động thổ. Một số hãng tin Reuters và Financial Times của Anh, Le Monde của Pháp, Bloomberg của Mỹ phản ánh bất bình của người dân trong diện giải tỏa, tranh cãi liên quan đến việc chính quyền tỉnh Hưng Yên cắt giảm chi phí bồi thường. Nhật báo Pháp Le Monde nhận được một bức thư nặc danh từ nội bộ chính phủ Việt Nam bày tỏ bất bình và nêu những nghi ngờ tham nhũng, quan hệ lợi ích nhóm trong dự án. Sau khi không thực hiện được hạn chót là ngày 30/04 để thu hồi đất, tỉnh Hưng Yên thông báo cho các hộ dân trong diện giải tỏa là nếu không chấp hành yêu cầu bàn giao đất, họ sẽ phải đối mặt với rủi ro cưỡng chế từ sáng 26/06/2026. Hãng tin Mỹ Bloomberg tiếp cận được văn bản này. Chủ đầu tư cũng đẩy nhanh tiến độ vì trước đó, chủ tịch Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc tuyên bố sân golf Trump có thể đăng cai Hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương - APEC năm 2027 và hy vọng tổng thống Trump tham dự.
Sôcôla là một món ăn nay đã quá quen thuộc với người Việt Nam, nhưng chắc là không có mấy ai hiểu rõ về nguồn gốc của hạt cacao làm nên sôcôla, về lịch sử phát triển của sôcôla, cũng như về những đặc tính của cacao được trồng tại Việt Nam. Chính là nhằm mục đích quảng bá những kiến thức về sôcôla và cacao mà ông Francesco Trần Văn Liêng, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Ca cao Việt Nam (Vinacacao), đã lập ra La Maison du chocolat , Bảo tàng sôcôla Việt Nam. Nằm tại Bình Hưng, ngoại ô Sài Gòn, với diện tích khoảng 4.000m², được khai trương vào tháng 4 vừa qua, La Maison du Chocolat trước hết đưa chúng ta trở về nguyên thủy của cây cacao ở vùng Trung Mỹ, được thể hiện qua bức tượng của một vị thần. Hướng dẫn chúng tôi trong một chuyến tham quan riêng, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích: “Đây là thần Ek Chuah. Người Maya và ở Trung Mỹ tự hào đây là thánh phù hộ cho ngành ca cao của họ ngay từ đầu và thực chất thì cây ca cao xuất phát từ Trung Mỹ, nơi mà văn minh của người Maya cũng gắn liền với văn minh của cây ca cao. Họ tự hào đó là “food of the God”, “thực phẩm Trời cho”. Họ sống vui vẻ, hòa mình với thiên nhiên và xây dựng một xã hội khá vững vàng trên nền tảng là hạt cacao và văn hóa xung quanh hạt cacao đó. Câu chuyện bắt đầu khi Christopher Columbus sang. Thứ nhất rõ ràng là Christopher Columbus đi với tư cách là hòa bình, nhưng thực sự cái hòa bình đó cũng ngắn hạn thôi. Thực tế là triều đình Tây Ban Nha gửi một đoàn quân sang và cuộc diệt chủng đầu tiên trên thế giới là diệt chủng người da đỏ và bây giờ người da đỏ đã tản mát ở Mêhicô, Honduras, thậm chí là ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Nhưng hạt cacao không bị khuất phục, hạt cacao sang châu Âu để tái chinh phục người châu Âu. Lúc đầu nó được dùng trong giới quý tộc và tăng lữ thôi, tại vì hạt này ngon quá, khi ăn thì người ta cảm thấy hưng phấn, vui vẻ. Nhưng nó được giữ rất kín cho đến khi cha con Joseph Fry ở Anh bắt đầu làm ra thanh sôcôla đầu tiên. Khi làm được thanh sôcôla đầu tiên rồi thì giới bình dân mới tiếp cận. Và khi tiếp cận rồi thì nó bùng nổ thành một thức uống chinh phục cả châu Âu.” Theo dòng lịch sử của hạt cacao, được tái hiện trên những bức tường, La Maison du chocolat đưa khách tham quan đến những quốc gia tiêu biểu của ngành sôcôla thế giới để hiểu được tính chất phong phú, đa dạng của sản phẩm này. Ông Francesco Trần Văn Liên cho biết: “La Maison du chocolat cố gắng tái hiện lại những mẫu sôcôla thời xưa hoặc thời cận đại của các dân tộc trên thế giới. Ví dụ người Đan Mạch hay dùng “creamy milk”. Họ rất thích sữa, cho nên nhiều khi mình khó phân biệt là ăn sôcôla hay ăn sữa! Rồi tới praline của Bỉ. Người Bỉ thì rất hãnh diện là đã đưa hạt vào và làm cho sôcôla trở nên ngon hơn, thơm hơn và có nhiều dinh dưỡng hơn. Người Thụy Sĩ thì đặc biệt thích ăn sôcôla rất mịn. Và đây là thanh sôcôla đầu tiên mà mà gia đình người Anh nhà Fry làm. Ban đầu nó không ngon, đắng nghét, tại vì không có sữa. Chúng tôi muốn khách tham quan hiểu được trên thế giới không phải chỉ có một cách ăn sôcôla, mà rất nhiều cách ăn. Ví dụ người Hà Lan có hot dark chocolate mà họ tự hào, nhưng phải là “pure”, tức là rất là tinh túy về hương vị sôcôla. Pháp cũng làm ra được praline giống như Bỉ, vì Pháp và Bỉ thì văn hóa gần nhau. Và trong thế giới ẩm thực của Pháp thì có quá nhiều sáng tạo. Đế quốc Ottoman là một đế quốc huy hoàng của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng họ thích ăn với pistachio, tức là hạt dẻ cười. Hạt dẻ cười cũng là một vật phẩm rất quý tại địa phương của họ. Ý thì tự hào là họ có Gianduja, pha sôcôla ới hạt hazelnut ( hạt phỉ ), ra một thương hiệu riêng đó là Gianduja. Tôi muốn giới thiệu với anh khu vực Trung Mỹ. Đầu tiên, chữ "sokalat" là do người Maya đặt ra và họ cũng có một thức uống rất điển hình thời đó, cách đây ngàn năm. Lúc đó công nghệ đâu có mạnh để nghiền rất mịn đâu. Họ chỉ là đập dập ra là uống. Nhưng đó là một thức uống bồi bổ sức khỏe cho những binh lính da đỏ để chiến đấu rất mãnh liệt với người Tây Ban Nha.” Đến với La Maison du chocolat , khách tham quan sẽ có dịp tìm hiểu về lịch sử của ngành cacao Việt Nam, để biết rằng loại cây này cũng chính là do người Pháp du nhập vào Việt Nam, theo lời ông Francesco Trần Văn Liêng: “Đầu thế kỷ 20, khoảng năm 1900, có một người Pháp tên là Jean-Baptiste Louis Pierre đem cây ca cao vào Thảo Cầm Viên Sài Gòn cùng thời với cây cà phê và cây cao su. Khi đưa vào Thảo Cầm Viên thì thấy khá là ổn và ông tiếp tục phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi có đất tốt, mưa nhiều, có nhiều tưới tiêu và và không có nhiều biến cố như bảo tố. Tại vì cây ca cao rất là cao, lá rất là to, gió nhiều nó sẽ gãy. Nhưng miền Nam cũng là vùng có nhiều chiến tranh, loạn lạc, người dân di cư rất nhiều, cho nên cây ca cao không phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 20. Mãi tới khoảng năm 2000, người Hà Lan bắt đầu viện trợ lại cho nông dân đồng bằng sông Cửu Long để tái lập lại các vườn ca cao xen với vườn dừa. Cây cacao thật ra là cây ăn trái, không phải là cây công nghiệp như cà phê. Cacao trước hết ra trái, trái phải được ủ, ủ xong mới lấy hạt để làm sôcôla. Để trái tốt thì đất phải tốt. Đồng bằng sông Cửu Long được xem là đất rất tốt. Và thứ hai là phải được tưới tiêu rất nhiều. Nhiều người lầm tưởng cây ca cao giống cà phê, nhưng thực sự nó rất là khác. Cây ca cao có thể sống tới 40 năm, thành cây cổ thụ rất lớn, như xoài, mít, mận, ổi. Đó lý do tại sao miền Nam có vẻ thích hợp hơn. Với lại cây cacao mà bị khí hậu lạnh thì nó chết. Gặp lạnh 18 độ thì nó sẽ đứng, rồi sau đó nếu nhiệt độ xuống nữa thì nó có thể bắt đầu rụng lá và chết.” Bảo tàng sôcôla cũng lưu giữ những dấu ấn của doanh nghiệp người Bỉ Ghicha Safarian, người đã thành lập công ty Puratos Grand-Place Việt Nam, hoạt động tại Việt Nam từ năm 1994. Đến đầu năm 2011, Puratos Grand-Place Việt Nam đã ra mắt loại sôcôla đầu tiên được sản xuất hoàn toàn tại Việt Nam, từ khâu trồng ca cao cho đến thành phẩm cuối cùng. Cho đến nay, đây là nhà sản xuất đầu tiên tại Việt Nam tích hợp chuỗi cung ứng ca cao vào quy trình sản xuất của mình. Nhưng so với những “cường quốc cacao” như Côte d’Ivoire và Ghana, thế mạnh của cacao Việt Nam là ở những mặt nào, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích: “Hiện nay Côte d’Ivoire và Ghana ở Phi Châu vẫn chiếm khoảng 75% sản lượng hạt cacao trên thế giới. Nhưng Côte d’Ivoire và Ghana thì ít sông ngòi và ít màu mỡ, cho nên hạt cacao có mùi hương nutty ( hương hạt dẻ ), như mùi gỗ, mùi mật ong, cũng ngon. Nhưng cacao socola Việt Nam được trồng ở đồng bằng, đất tốt mưa nhiều, phù sa, cho nên hạt to hơn, cơm bao nhiều hơn và hậu vị hơi chua ngọt, giống như cà phê arabica thì hơi chua một chút, cho nên nó mang tính chất fruity và độ thơm của nó thì cũng phản ánh vùng đất. Cho nên cacao Việt Nam có khuynh hướng dùng để làm sôcôla, còn cacao của Côte d’Ivoire và Ghana thì có khuynh hướng nghiền ra để làm bột. Tóm lại, cacao Việt Nam nổi bật hơn ở những điểm sau đây: fruity, mùi sôcôla nhiều hơn, học hỏi được cách lên men của Bỉ cho nên cho vị men thơm hơn, nhưng bù lại thì sản lượng thấp hơn và vì diện tích canh tác ít thành ra sự phát triển chậm chạp hơn. Thống trị trên thế giới về số lượng vẫn là Côte d’Ivoire và Ghana. Nhưng nhiều người làm chocolate boutique ở Bỉ, Pháp, Hà Lan mua hạt cacao của Việt Nam để làm hương vị riêng của họ. Giá của hạt cacao Việt Nam luôn giữ cao bởi vì cũng có nhu cầu. Riêng Vinacacao có những dòng sản phẩm rất dễ ăn, như là cốm gạo Hà Nội, sôcôla ngọt, hoặc là sôcôla yaourt. Ngoài hữu cơ ( organic ), dòng sản phẩm của Vinacacao còn được gọi là single origin, tức là 100% sôcôla ở Việt Nam. Giống như rượu vang Pháp, nho trồng ở đâu thì nó quyết định vị ngon của nó. Hiện nay Vinacao phát triển dòng mạnh nhất vừa là hữu cơ, vừa có lợi cho sức khỏe, tức là không dùng đường. Ngoài sôcôla thì Vinacacao phát triển rất nhiều dòng sản phẩm bột để dễ uống, chỉ cần pha với cà phê thôi. Đặc biệt là sản phẩm này kết hợp với Hà Lan để ra một dòng bột tương đối cao cấp cho thị trường Việt Nam và cho xuất khẩu. Ở Việt Nam bây giờ cũng có nhiều khách sạn năm sao và khu nghỉ dưỡng resort tìm cái loại bột cacao chất lượng để làm bánh." Khách tham quan đến với La Maison du chocolat còn được tận mắt nhìn thấy cây cacao được trồng trong vườn, hạt cacao được ủ như thế nào, được phơi ra sao. Mọi người cũng sẽ có dịp thưởng thức những sản phẩm được chế biến từ cacao Việt Nam, trong đó có cả những thức uống. Đây cũng là nơi mà người lớn và trẻ em có thể đến để tự tay chế biến những thanh sôcôla, còn các trường có thể gởi học sinh đến trong những buổi học ngoại khóa để các em tìm hiểu về thực phẩm đầy thú vị này.
"Bộ Công An là cơ quan có ảnh hưởng lớn nhất tại Việt Nam. Trong bộ máy Nhà nước, cảnh sát và các cơ quan tình báo được coi là những công cụ chủ yếu để bảo tồn chế độ" . Bộ Công An cũng được lợi nhất trong cuộc cải cách hành chính 2025, do ông Tô Lâm khởi xướng. Nhìn chung, bộ Công An đang tăng cường tự chủ so với bộ Quốc Phòng, một đối thủ lớn trong phát triển công nghiệp và kinh tế. Vai trò của bộ được tăng cường trong nhiều lĩnh vực, mở rộng sang hoạt động kinh tế, truyền thông (MobiFone), mua sắm trang thiết bị… Từ cuối năm 2025, vai trò của bộ Công An còn được mở rộng ra quy mô thế giới, thể hiện qua Đối thoại 3+3 với Trung Quốc, bao gồm quan chức ngoại giao, quân sự và công an. Đây là phần giải thích : “Bộ Công An đóng vai trò chính trị như thế nào tại Việt Nam?” nằm trong 100 câu hỏi trong cuốn sách mới Le Việt Nam . Au carrefour d'une nouvelle Asie. En 100 questions (Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới) của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM). Nhà nghiên cứu Benoît de Tréglodé trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Tháng 05/2026, ông đã xuất bản cuốn sách mới có tựa đề, tạm dịch Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới. Trong 100 câu hỏi . Trong phần giới thiệu, ông viết : Có một thỏa ước ngầm đang định hình mối quan hệ giữa Nhà nước-đảng và xã hội : làm giàu cá nhân được khuyến khích với điều kiện người dân không tham gia vào lĩnh vực chính trị. Gần đây hơn, chế độ đã xây dựng thêm phần thứ hai cho khế ước xã hội này : Nhà nước-đảng bảo đảm an ninh, với cái giá là tăng cường kiểm soát xã hội. Có thể nhận thấy ở đây có hai ý nghĩa : “an ninh” và “tăng cường kiểm soát xã hội”. Vậy trước tiên, “an ninh” đang được chính quyền hiện tại diễn giải như thế nào? “An ninh” đóng vai trò gì trong chính sách nhà nước hiện nay ? Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này gắn với một sự kiện diễn ra tại Hà Nội vào đầu tháng 6, khi tổng bí thư Tô Lâm có buổi làm việc với bộ trưởng Công An Lương Tam Quang. Trong cuộc gặp này, ông nhấn mạnh rằng quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam, với mục tiêu tăng trưởng hàng năm ít nhất 10% - con số gây ấn tượng thực sự - trong nhiệm kỳ 2026-2031, phải đi đôi với việc xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ luật, an toàn và phát triển. Theo định hướng đó, bảo đảm an ninh cho quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế của Việt Nam được đặt song hành với việc tăng cường an ninh. Đây không phải là một chi tiết nhỏ. Trong thời gian gần đây, hơn 5.000 camera ứng dụng trí tuệ nhân tạo đã được lắp đặt tại Hà Nội để giám sát an ninh, giao thông và người dân. Cách đây vài ngày, lực lượng An ninh Nhân dân đã nhận Huân chương sao vàng lần thứ tư. Đây là huân chương cao quý nhất, phần thưởng danh dự nhất, ghi nhận những đóng góp và thành tích của lực lượng công an Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng và trật tự công cộng. Vì vậy, thực tế hiện nay là ban lãnh đạo tại Việt Nam, với hạt nhân là ông Tô Lâm, nguyên là tướng công an, cùng các cộng sự thân cận, hầu hết là từ lực lượng công an, xác định công an và an ninh là trụ cột trung tâm trong nhiệm kỳ của tân tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam. RFI : Yếu tố thứ 2 là “tăng cường kiểm soát xã hội”. Hiện tại chúng ta có thể rút ra ghi nhận gì từ điều này ? Benoît de Tréglodé : Đây không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới. Thực tế, việc tăng cường kiểm soát xã hội và người dân đã diễn ra song hành với tiến trình mở cửa của Việt Nam kể từ khi chính sách Đổi mới được khởi xướng. Năm 2026, Việt Nam kỷ niệm 40 năm thực hiện chính sách mở cửa kinh tế. Ở đây có thể rút ra hai nhận định đáng chú ý. Thứ nhất, Việt Nam đã không ngừng mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, chính trị với bên ngoài. Bên cạnh những đối tác truyền thống như Trung Quốc hay các nước ASEAN, mạng lưới đối tác quốc tế của Việt Nam ngày càng phong phú và rộng lớn hơn. Thứ hai, quá trình mở cửa kinh tế từ cuối những năm 1980 đã làm dấy lên những lo ngại trong giới lãnh đạo Việt Nam về nguy cơ tác động đến sự ổn định xã hội, cũng như sự gắn kết của giới trẻ với hệ thống. Vì vậy, đối với họ, mở cửa phải luôn đi đôi với kiểm soát và kỷ luật tập thể. Chính cách tiếp cận này lý giải tại sao hai yếu tố này - quá trình phát triển kinh tế và tăng cường kiểm soát - luôn đi liền với nhau. Tiếp theo đó, chúng ta thấy vai trò của lực lượng công an ngày càng được củng cố trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Xu hướng này trở nên rõ nét hơn sau Đại hội đảng Cộng Sản lần thứ XIII cách đây 5 năm và đặc biệt kể từ khi ông Tô Lâm tiếp tục củng cố quyền lực tại Đại hội Đảng XIV vào đầu năm nay, đồng thời giữ hai chức vụ chủ tịch nước và tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam. Như vậy, lực lượng an ninh được đặt vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, với việc siết chặt kiểm soát trật tự xã hội thông qua hàng loạt công cụ pháp lý. Tiêu biểu là Luật An ninh mạng nổi tiếng, được hai bộ Công An Trung Quốc và Việt Nam cùng nhau suy nghĩ để soạn thảo, có hiệu lực ngày 01/01/2019, cùng với việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực an ninh mà giới lãnh đạo Việt Nam đánh giá đặc biệt hiệu quả. RFI : Phải chăng công việc này đã có thể thực hiện được là nhờ bộ Công An ? Trong cuốn sách, ông đề cập ở câu hỏi số 41 đến “vai trò chính trị” của bộ này. Vậy cụ thể “vai trò chính trị” đó là gì ? Benoît de Tréglodé : Có hai điểm đáng chú ý. Thứ nhất, đó là việc ông Tô Lâm cùng các cộng sự từng công tác tại bộ Công An hiện đang nắm giữ nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm hơn là dần dần, thông qua các hoạt động liên quan đến công chúng, chủ quyền, an ninh và thậm chí cả đối ngoại, vai trò ngày càng nổi bật của chủ thể chính trị mới trong bộ máy nhà nước Việt Nam đã được thể hiện rõ : lực lượng cảnh sát và công an. Tôi lấy một ví dụ rất cụ thể là quan hệ song phương giữa Việt Nam với Trung Quốc, hoặc với Nga, Lào, Cam Bốt, hoặc một số nước láng giềng khác. Trước đây, các cuộc trao đổi song phương thường được tổ chức theo cơ chế 2+2 với đại diện từ bộ Ngoại Giao và Quốc Phòng. Tuy nhiên, trong vài tháng gần đây, cơ chế này đã được mở rộng thành 3+3, trong đó bộ Công An tham gia với vị thế ngang hàng với hai bộ trên. Điều đó có nghĩa là trong các cuộc gặp giữa Việt Nam và Trung Quốc nhằm thảo luận các vấn đề song phương, bên cạnh các nhà ngoại giao và đại diện quân đội, lực lượng công an của hai nước cũng tham gia vào quá trình trao đổi và xử lý các vấn đề chung. Việc đưa lực lượng công an tham gia ở cấp độ này phản ánh sự thay đổi trong bộ máy lãnh đạo Việt Nam. Rõ ràng là lãnh đạo Việt Nam đang trực tiếp nhấn mạnh vai trò chính trị quan trọng của lực lượng công an. RFI : Cuốn sách cũng nêu “Việc làm giàu cá nhân được khuyến khích với điều kiện người dân không tham gia chính trị”. Tại sao điều này lại quan trọng đối với Nhà nước-đảng ? Liệu thực tế được mô tả trong câu hỏi 30 (Tại sao người Việt Nam lại nói nhiều về tiền bạc?) có phải là cơ sở để thực hiện chính sách “giữ người dân tránh xa chính trị” hay không ? Benoît de Tréglodé : Trong cuốn sách, tôi nhiều lần trở lại với vấn đề này, bởi vì đây là một điểm then chốt để hiểu được sự tồn tại lâu dài của đảng Cộng Sản Việt Nam trong khoảng 40 năm qua. Đó là quá trình chuyển đổi từ một hệ tư tưởng mang tính giáo điều được du nhập từ bên ngoài - ở đây tôi sử dụng từ “giáo lý” (catéchisme) - vốn trong một thời gian dài được thể hiện qua chủ nghĩa Mác - Lênin dưới những hình thức được du nhập, điều chỉnh và thích nghi với bối cảnh văn hóa Việt Nam, sang một mô hình gần gũi hơn với xu hướng phát triển của các xã hội phương Tây hiện nay, đó là chủ nghĩa tư bản tự do. Mô hình này, đôi khi được thúc đẩy rất mạnh mẽ và dần dần trở thành một dạng “giáo lý chính trị” mới đối với đảng Cộng Sản Việt Nam. Như Đặng Tiểu Bình từng nói ở Trung Quốc năm 1979 : Kinh doanh làm giàu cho dân tộc, làm giàu cho người dân và làm rạng danh đất nước. Ngày nay, câu nói này có thể nghe không mới, nhưng vào đầu những năm 2000, đây vẫn là vấn đề gây nhiều tranh luận. Tại phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX năm 2002, lần đầu tiên đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận việc đảng viên có thể sở hữu doanh nghiệp tư nhân, tham gia hoạt động kinh doanh, đồng thời vẫn duy trì tư cách đảng viên. Kể từ đó, kinh doanh trở thành một yếu tố quan trọng trong văn hóa phát triển của Việt Nam, bao gồm cả hoạt động kinh doanh trong khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước. Đó thực sự là “cơn địa chấn” đầu tiên bắt đầu từ đầu thế kỷ XXI và xu hướng này tiếp tục được củng cố. Năm 2025, Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân. Đây là một trong những văn kiện quan trọng, trong đó lần đầu tiên vai trò của khu vực kinh tế tư nhân được khẳng định rõ ràng là một trong những động lực quan trọng hàng đầu của nền kinh tế quốc gia. Như vậy, trọng tâm của quá trình chuyển đổi đã thay đổi trong vòng 40 năm qua. Hiện nay, đảng Cộng Sản Việt Nam hiểu rằng sự tồn tại lâu dài, bền vững và tương lai của đảng phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, vào khả năng kinh doanh, làm giàu của người dân và theo đuổi vấn đề đó, chứ không phải là quan tâm đến chính trị. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).
Trong bối cảnh phát triển du lịch bền vững ngày càng trở thành ưu tiên của nhiều quốc gia, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ - Organisation internationale de la Francophonie (OIF) - đang triển khai tại Việt Nam dự án “Điểm đến Sinh thái Tài năng” - Destination Eco-Talent - với mục tiêu kết hợp đào tạo nghề, tạo việc làm cho thanh niên và phụ nữ tại các địa phương, đồng thời thúc đẩy các mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường. Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt, bà Adjara Diouf, điều phối viên của chương trình Thúc đẩy Du lịch Bền vững của OIF chia sẻ về những chia sẻ về những mô hình đang được thử nghiệm tại Việt Nam, các thách thức trên thực địa cũng như tiềm năng của du lịch bền vững trong không gian Pháp ngữ. Adjara DIOUF : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ đã khởi động dự án Điểm đến Sinh thái Tài năng vào năm 2024 tại bốn quốc gia : Cabo Verde, Cam Bốt, Comores và Việt Nam. Mục tiêu tổng thể của dự án là góp phần vào khả năng hồi phục và trao quyền cho người dân, đặc biệt là cho giới trẻ và phụ nữ, để giải quyết các thách thức về môi trường, khí hậu, kinh tế và xã hội. Dự án này, được gọi là Điểm đến Sinh thái Tài năng (Eco-Talent), nhằm mục đích tạo ra việc làm và cơ hội thu nhập cho thanh niên, phụ nữ và cộng đồng dân cư sống ở nông thôn và các vùng ven đô thị. Chương trình tập trung vào khả năng tìm việc làm và phát triển nghề nghiệp của người lao động thông qua các sáng kiến giáo dục và đào tạo, hướng tới các nghề trong ngành du lịch bền vững, đồng thời hỗ trợ phát triển và quảng bá các sản phẩm du lịch bền vững. Chương trình cũng nhấn mạnh đến sự phối hợp và kết nối các nỗ lực trong phát triển du lịch bền vững. Tại sao lại là Việt Nam ? Đơn giản là vì, trước hết, chúng tôi có văn phòng đại diện khu vực của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) tại Việt Nam. Vì vậy, việc bắt đầu với quốc gia này là hoàn toàn hợp lý, đặc biệt là vì trụ sở cơ quan của tôi và nhóm điều phối đều được đặt tại Việt Nam. Hơn nữa, Việt Nam là một đất nước tuyệt vời với nhiều tiềm năng trong lĩnh vực du lịch bền vững và du lịch nói chung. RFI : Trong giai đoạn thực hiện, OIF đã phát triển các sáng kiến và mô hình đổi mới nào để thúc đẩy du lịch bền vững ? Adjara DIOUF : Có thể coi dự án Điểm đến Du lịch Sinh thái này là một sáng kiến đổi mới. Thứ nhất, dự án này của OIF triển khai một mô hình đổi mới kết hợp du lịch bền vững và đào tạo. Dự án được triển khai với sự hợp tác của một số trường đại học của Việt Nam, như Đại học Hà Nội, hay Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh … Mô hình này đề xuất các chương trình đào tạo chuyên ngành, tích hợp với hoạt động thực tiễn. Như vậy sinh viên có thể áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, qua đó có sự hỗ trợ trực tiếp và cụ thể cho các cộng đồng dân cư. Dự án này cũng tích hợp các chương trình đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch, nhằm thúc đẩy hội nhập nghề nghiệp cho những thanh niên có hoàn cảnh khó khăn, ví dụ như ở các tỉnh. Đào tạo và giáo dục về du lịch bền vững là rất cần thiết. Bởi vì đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch bền vững có thể nâng cao nhận thức của giới trẻ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và trên hết, giúp họ tìm được con đường hướng tới việc làm và hội nhập. Thứ hai, dự án này hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch trải nghiệm thực tế. Ví dụ các sáng kiến du lịch cộng đồng với nghề làm nón lá ở Tri Lễ hoặc nghề đan lát ở Bao La, Huế. Những sáng kiến này hoàn toàn do cộng đồng ở địa phương quản lý. Khi loại bỏ các bên trung gian, người dân biến những kỹ năng của họ thành những trải nghiệm tạo ra thu nhập thực sự. Việc các địa phương nắm được chuỗi giá trị như vậy sẽ tạo ra 3 tác động : về kinh tế, thông qua việc tạo ra việc làm ; về xã hội, thông qua việc trao quyền cho phụ nữ và thanh niên; và về môi trường và văn hóa, thông qua việc bảo tồn di sản. Chính bằng cách này, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) mang lại thêm giá trị thực sự, thông qua việc điều phối các đối tác sử dụng tiếng Pháp tham gia vào các sáng kiến này. Hơn nữa, việc sử dụng tiếng Pháp thông qua giao tiếp và thậm chí cả việc học những điều cơ bản về ngôn ngữ cũng mang lại cho các cộng đồng ở địa phương thêm một lợi thế cạnh tranh. Nói cách khác, đây là một mô hình độc nhất, trong đó du lịch bền vững vừa trở thành một công cụ hội nhập kinh tế, vừa trở thành một phương tiện quảng bá cho khối Pháp ngữ tại Việt Nam. Và cuối cùng, để củng cố 2 hướng chủ đạo nói trên, tức là đào tạo và hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch, OIF dự kiến mở một trung tâm Điểm đến Du lịch Sinh thái tại Việt Nam trong năm 2026. Trung tâm này sẽ được thiết kế như một trung tâm đa năng thực thụ, với nhiều bên tham gia để thúc đẩy du lịch bền vững. RFI : Bà có thông điệp gì gửi đến những thanh niên muốn tham gia vào lĩnh vực du lịch bền vững ? Adjara DIOUF : Đây là một câu hỏi thú vị. Trước hết, ai cũng biết rằng du lịch bền vững có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế và xã hội, bởi vì tạo ra nhiều việc làm trực tiếp và gián tiếp cho thanh niên, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa. Do nhiều thanh niên và các bên liên quan ở địa phương chưa được thông tin đầy đủ về những cơ hội mà du lịch bền vững mang lại, nên điều cần thiết là phải nâng cao nhận thức và thông tin cho họ về tiềm năng của lĩnh vực này, khuyến khích họ hướng tới lĩnh vực việc làm đầy triển vọng này. Du lịch bền vững có thể thúc đẩy việc làm mới, tạo ra những nghề nghiệp mới và bồi dưỡng tài năng mới cho giới trẻ. Tôi cũng có một số thông điệp khác. Như chúng ta đã biết, khu vực châu Á có sự đa dạng văn hóa rất lớn, với nhiều nền văn hóa, truyền thống và ngôn ngữ khác nhau, và tôi nghĩ rằng việc hiểu rõ những đặc điểm riêng này là rất quan trọng để tạo ra các sáng kiến du lịch bền vững và tôn trọng cộng đồng địa phương. Du lịch bền vững cũng làm nổi bật văn hóa địa phương, khuyến khích giới trẻ trở thành đại sứ cho di sản của chính địa phương mình. Đây cũng là một nguồn cơ hội cho giới trẻ, ví dụ như những người muốn khởi nghiệp, phát triển các giải pháp sáng tạo trong lĩnh vực du lịch, bằng cách sử dụng công nghệ mới, để nâng cao trải nghiệm du lịch - họ rất giỏi trong lĩnh vực này - phát triển các sản phẩm du lịch mới, đồng thời bảo vệ môi trường. Và tôi muốn nói thêm rằng tiếng Pháp cũng là một công cụ mạnh mẽ để hội nhập xã hội trong khu vực này. Thành thạo tiếng Pháp làm tăng khả năng tìm việc làm và mức thu nhập cho giới trẻ làm việc trong ngành du lịch. RFI : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) có kết nối Việt Nam với các nước Pháp ngữ khác để chia sẻ kinh nghiệm không, và theo ý kiến của bà, những kinh nghiệm quốc tế nào có thể được áp dụng hiệu quả tại Việt Nam? Adjara DIOUF : Vâng, đây chính là hoạt động tiếp theo mà chúng tôi sẽ thực hiện. Hiện tại, chúng tôi đang trong giai đoạn thí điểm, và bước tiếp theo là kết nối các quốc gia hưởng lợi từ giai đoạn thí điểm để họ có thể trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm tốt nhất. Mặt khác, Việt Nam rất mạnh về du lịch cộng đồng và có thể truyền cảm hứng cho các quốc gia nói tiếng Pháp khác. Cũng có những kinh nghiệm từ các nơi khác có thể được áp dụng tại Việt Nam. Ví dụ, kinh nghiệm quản lý các công viên quốc gia của Canada là rất đáng khích lệ. Việc áp dụng hạn ngạch khách tham quan, hệ thống đặt chỗ, các quy định nghiêm ngặt và giáo dục môi trường giúp bảo tồn hệ sinh thái. Ví dụ, kiểu sáng kiến này có thể được áp dụng tại các địa điểm rất nổi tiếng vào những thời điểm nhất định trong năm, khi lượng khách du lịch rất đông, để hạn chế tác động của du lịch đại chúng. Một sáng kiến khác cũng cho phép giải quyết đáng kể vấn đề rác thải, đặc biệt là rác từ sản phẩm nhựa dùng một lần, vẫn còn rất phổ biến ở nhiều địa điểm du lịch. Nhìn vào các ví dụ từ các quốc gia khác như Pháp, Maroc và Rwanda, tôi nghĩ rằng có thể giải quyết đồng thời các vấn đề này để dần dần giảm thiểu việc sử dụng nhựa thông qua các chính sách công và cũng khuyến khích các nhà quản lý địa điểm áp dụng các tiêu chuẩn môi trường thông qua các chứng nhận như Nhãn hiệu Điểm đến xuất sắc. Dự án TRILAF và làng nghề nón lá Tri Lễ Trong số các dự án được OIF hỗ trợ, ví dụ có dự án Tri Lễ - nghề thủ công và tình đoàn kết Pháp ngữ vì một tương lai bền vững - gọi tắt là TRILAF, một sáng khiến do Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, triển khai, hướng tới việc kết nối bảo tồn nghề thủ công truyền thống với phát triển du lịch cộng đồng bền vững. Tri Lễ là một làng nằm ở huyện Thanh Oai cũ, hiện nay thuộc xã Dân Hòa, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 30 km. Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Đàm Minh Thủy, trưởng khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho biết : « Điểm đặc biệt của dự án là có sự tham gia của nhiều bên, cụ thể là có sự tham gia của chính quyền địa phương, của người dân, của doanh nghiệp du lịch và sinh viên, cùng giảng viên của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, qua đó hình thành một hệ sinh thái hợp tác gắn kết giữa giáo dục, văn hóa và phát triển kinh tế. Và chúng tôi cũng đặc biệt vui mừng khi định hướng của dự án thì hoàn toàn phù hợp với quy hoạch tổng thể của thủ đô Hà Nội « Tầm nhìn 100 năm », trong đó nhấn mạnh việc bảo tồn làng nghề gắn với phát triển du lịch nông thôn như là một trụ cột quan trọng để gìn giữ bản sắc văn hóa và thúc đẩy kinh tế địa phương. Và chúng tôi tin tưởng rằng là với sự đồng hành của chính quyền, của cộng đồng và các đối tác, Tri Lễ sẽ từng bước trở thành một mô hình tiêu biểu về phát triển làng nghề gắn với du lịch bền vững và góp phần lan tỏa giá trị của văn hóa Việt Nam trong nước và quốc tế. Trường Đại học Ngoại ngữ Đại học Quốc gia Hà Nội giữ vai trò trung tâm trong dự án. Nhà trường là đơn vị khởi xướng ý tưởng này, xây dựng này và phát triển dự án cùng với các đối tác địa phương và cộng đồng pháp ngữ. Và đồng thời, chúng tôi cũng đảm nhiệm vai trò là điều phối chung và triển khai các hoạt động của dự án, thông qua khoa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ Đại Quốc gia Hà Nội huy động các giảng viên, sinh viên cùng với các đối tác học thuật và các doanh nghiệp nhằm đồng hành cùng với làng Tri Lễ trong việc bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng bền vững. Trong dự án, chúng tôi tổ chức rất nhiều hoạt động ở tập huấn về du lịch bền vững, du lịch cộng đồng, sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn, hay trang trí nón lá, kỹ năng đón tiếp khách du lịch và ngoại ngữ. Thông qua đó, chúng tôi mong muốn góp phần quảng bá làng nghề, với các hoạt động trung gian, văn hóa và sản xuất nội dung số, xây dựng tour du lịch và hợp tác quốc tế. RFI : Vậy sinh viên có vai trò gì trong sự án ? TS. Đàm Minh Thủy : Về vai trò của sinh viên và giảng viên trong dự án, có thể nói sinh viên Pháp ngữ, cụ thể là sinh viên tiếng Pháp của khoa chúng tôi thì giữ vai trò trung tâm trong dự án Trilaf. Các em không chỉ là người được hưởng lợi từ dự án, mà còn là những tác nhân tích cực và đồng kiến tạo các hoạt động trong dự án. Cụ thể TRILAF tạo nên một môi trường học tập rất là thực tiễn, bổ ích, nơi mà sinh viên có thể vận dụng các kiến thức tiếng Pháp kiến thức về truyền thông du lịch và đóng vai trò là trung gian văn hóa và ứng dụng tất cả những kiến thức, cũng như là kỹ năng của các em, vào tình huống thực tế. Ví dụ sinh viên du lịch thì được tham gia khảo sát thực địa nghiên cứu về các tiềm năng du lịch của làng này và của nghề làm nón lá truyền thống, hoặc là các em cũng tham gia những cái cuộc thi về sáng tạo video để quảng bá cho làng nghề và trực tiếp gặp gỡ, học hỏi và trao đổi, trò chuyện cùng với người dân địa phương để có thể hiểu hơn về làng, cũng như về nghề làm nón lá. Sinh viên truyền thông thì xây dựng những kế hoạch hay những sản phẩm truyền thông để quảng bá dự án thông qua việc sản xuất nội dung số, hay là quản lý trang mạng xã hội và có hoạt động tôn vinh văn hóa. Bên cạnh hai đối tượng, hai nhóm sinh viên này, chúng tôi cũng huy động các sinh viên ở trong khoa để tham gia tích cực vào việc tổ chức các buổi tập huấn cho người dân. Một số em có thể trực tiếp hỗ trợ các hoạt động sáng tạo, như trang trí nón lá, và thông qua tất cả những hoạt động này thì sinh viên có thể phát triển kỹ năng về nghề nghiệp, kỹ năng về tổ chức, năng lực giao tiếp liên văn hóa, cũng như tinh thần trách nhiệm xã hội và sự thấu hiểu thực tế của địa phương và góp phần vào những hoạt động về cộng đồng. Chúng tôi nghĩ rằng là đây là những chìa khóa, là những hành trang quan trọng để sinh viên có thể dễ dàng tìm được những công việc phù hợp trong tương lai. Đối với giảng viên thì dự án cũng tạo điều kiện để phát triển các phương pháp giảng dạy liên ngành, gắn thực tiễn xã hội và cộng đồng. TRILAF góp phần tăng cường mối liên hệ giữa đào tạo nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. Đây chính là 3 hướng mà chúng tôi muốn kết hợp với nhau ở trong bối cảnh đào tạo đại học hiện nay. Đồng thời, dự án cũng mở ra nhiều cơ hội hợp tác quốc tế, hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp mở ra những hướng nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực du lịch bền vững, giáo dục liên văn hóa và Pháp ngữ học. RFI : Dự án TRILAF có thể mang lại lợi ích gì cho làng nghề nón lá Tri Lễ ? TS. Đàm Minh Thủy : Trên thực tế chúng tôi cũng đã triển khai rất nhiều hoạt động và những hoạt động này cũng mang lại những lợi ích cho người dân Tri Lễ. Trước hết là dự án TRILAF có những tác động tích cực về mặt kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân Tri Lễ, thông qua việc tôn vinh nghề làm nón lá truyền thống. Chúng ta đều biết nón lá truyền thống là một di sản văn hóa quan trọng của Việt Nam. Và nón lá truyền thống thì được sản xuất tại rất nhiều các làng nghề hay là các vùng miền khác nhau của Việt Nam, và ở mỗi một vùng miền hay làng nghề thì có những cái đặc trưng riêng. Tuy nhiên, hiện nay, với sự phát triển của cuộc sống hiện đại, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng là nón lá ngày càng bị mai một. Ví dụ như là ở làng Tri Lễ còn rất nhiều hộ gia đình làm nghề làm nón lá. Tuy nhiên, khi chúng tôi đến làm việc và khảo sát thì thấy rằng đa số là phụ nữ, cũng có cả nam giới nhưng là những người đã nhiều tuổi, từ khoảng 50-60 tuổi trở lên, thậm chí có những người 80 tuổi vẫn làm. Còn thanh niên và những người trong độ tuổi lao động thì họ đi làm những nghề khác. Thế nên, chúng tôi nghĩ rằng có nguy cơ về sự mai một của nghề truyền thống thủ công. Chính vì vậy, chúng tôi cũng cố gắng xây dựng các hoạt động về truyền thông, hay quảng bá về du lịch thông qua những hoạt động về đào tạo, để các sản phẩm của làng ngày càng được khách du lịch trong và ngoài nước biết nhiều hơn. Dự án cũng góp phần cải thiện đời sống của người dân Tri Lễ, thông qua phát triển du lịch cộng đồng với các hoạt động như là đón tiếp khách tham quan, hay là trình diễn nghề thủ công truyền thống, hoặc là tổ chức những trải nghiệm văn hóa và tham quan làng nghề. Những hoạt động này sẽ giúp đa dạng hóa kinh tế địa phương và mở ra nhiều cơ hội về nghề nghiệp mới. Đặc biệt là dự án TRILAF quan tâm nhiều và đối tượng hưởng lợi chủ yếu là phụ nữ và thanh niên, những lực lượng giữ vai trò quan trọng cho các hoạt động thủ công và du lịch của làng. Chúng tôi tổ chức các khóa tập huấn về du lịch bền vững, về truyền thông, về kỹ năng đón tiếp khách du lịch, hay những sáng tạo thủ công trang trí nón lá, để giúp người dân nâng cao những kỹ năng của mình, để phát huy nghề truyền thống và tăng cường khả năng tự chủ kinh tế. Chúng tôi tin tưởng rằng về lâu dài thì dự án cũng sẽ khuyến thích được nhiều người trẻ quay trở lại với quê hương để tham gia và phát triển địa phương, gìn giữ các tri thức truyền thống. Cuối cùng thì TRILAF hướng tới việc xây dựng Tri Lễ thành một mô hình du lịch bền vững và đoàn kết, dựa trên 3 nền tảng chính : bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nâng cao năng lực cộng đồng địa phương và phát triển các hoạt động du lịch thân thiện với môi trường. RFI : Dự án TRILAF có kết nối được với các doanh nghiệp du lịch để phát triển du lịch cho làng nghề nón lá Tri Lễ ? TS. Đàm Minh Thủy : Như tôi đã nói thì trong dự án này có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên, đó là chính quyền địa phương, trường Đại học ngoại ngữ Đại Quốc gia Hà Nội và các doanh nghiệp du lịch. Đối với các doanh nghiệp du lịch thì chúng tôi cũng đã có rất nhiều buổi trao đổi thảo luận. Một số đại diện của các công ty du lịch cũng cùng với chúng tôi đến làm việc với địa phương, trước hết là tập huấn cho người dân về du lịch cộng đồng, du lịch bền vững và những đặc điểm của khách du lịch Pháp hay là khách sử dụng Pháp ngữ. Đồng thời, các đơn vị lữ hành cũng hỗ trợ dự án, xây dựng những tour du lịch và tư vấn cho địa phương, cũng như cho dự án những phương án thiết kế tour, hay là những điều kiện về cơ sở vật chất và cơ cấu tổ chức để có thể đón khách du lịch. Chúng tôi hi vọng từ giờ đến cuối cuối năm các công ty du lịch cũng sẽ gửi được những đoàn khách du lịch đầu tiên để đến làng nghề Tri Lễ. Qua trao đổi với giám đốc của công ty Horizon Travel, một công ty cũng tương đối lớn về du lịch và đặc biệt là có một số lượng khách Pháp rất lớn, chúng tôi cũng được biết công ty đã tổ chức rất nhiều đoàn tour đến làng Chuông, một làng nón lá cũng đã rất phát triển. Thậm chí là mỗi năm riêng công ty này có thể tổ trước khoảng 500 tour du lịch đến làng Chuông. Sau khi khảo sát ở làng Tri Lễ thì công ty Horizon Travel cũng đánh giá rất cao tiềm năng của làng Tri Lễ, cũng như của xã Dân Hòa, bởi vì những đặc điểm nghề làm nón lá thủ công truyền thống ở Tri Lễ rất là phong phú và hiện nay việc sản xuất nón lá vẫn hiện hữu trong từng gia đình. Ngôi làng cũng rất đẹp, với những đường bờ đê hay những ngôi nhà cổ, và những người dân, thậm chí đến 80-90 tuổi, vẫn ngồi đan nón lá. Đó là những tiềm năng rất tốt. Và ngay bên cạnh làng Tri Lễ thì là làng Ước Lễ nổi tiếng với nghề làm giò chả, với những cổng làng rất đẹp và có truyền thống, hay là những địa danh khác của xã Dân Hòa. Chúng tôi đánh giá tiềm năng về du lịch rất là phát triển và cũng có thể thu hút được nhiều khách du lịch trong thời gian tới. Bản thân công ty Horizon Travel cũng đã cam kết với chúng tôi rằng sẽ đưa làng Tri Lễ vào chương trình tour của mình. Ngoài công ty này, chúng tôi cũng đã trao đổi với một số doanh nghiệp du lịch khác và họ đều rất ủng hộ, sẵn sàng tham quan khảo sát và xây dựng những tuyến tour ở làng Tri Lễ.
Theo lịch trình dự kiến, sân bay quốc tế Long Thành sẽ được đưa vào hoạt động kể từ tháng 12 năm nay song song với sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố khiến dự án đầy tham vọng này của Việt Nam có nguy cơ bị chậm trễ. Kế hoạch chuyển các chuyến bay quốc tế từ Tân Sơn Nhất đến Long Thành đang đặt ra nhiều vấn đề, nhất là vì hệ thống giao thông kết nối hai sân bay vẫn chưa theo kịp. Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành được xây dựng trên diện tích khoảng 5.000ha, có tổng mức đầu tư gần 16 tỷ đôla, với Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) là chủ đầu tư dự án. Riêng giai đoạn 1 được thiết kế với công suất 25 triệu lượt hành khách và 1,2 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Mới đây, ông Nguyễn Đức Hùng, Quyền Tổng Giám đốc ACV đã cam kết với thủ tướng Lê Minh Hưng là sẽ hoàn thành toàn bộ dự án vào tháng 12/2026 và đưa sân bay này vào hoạt động. Tuy nhiên, trả lời RFI Việt ngữ ngày 03/07/2026, tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Kỹ thuật hàng không Trường Đại học Văn Lang, cho rằng không cần xây dựng sân bay Long Thành một cách gấp rút như thế: "Tôi thấy là không hiểu sao mà phần lớn như là bị tự kỷ ám thị, tự mình tin như vậy, rồi nói như vậy và cùng nhau nói như vậy, không ai nói ngược lại. Tức là tại sao Long Thành phải hoạt động vào năm 2026? Tại sao đặt những mốc thời gian như vậy, trong khi một công trình xây dựng đòi hỏi thời gian để nó có thể là hoàn tất, bảo đảm chất lượng hoạt động khi hoàn tất, chứ không phải đặt mức phải bắt đầu hoạt động, rồi thúc đẩy hoàn tất cho kịp cái mốc đó. Thứ nhất là không bảo đảm được kết quả như là để tự nó theo đúng điều kiện khách quan để nó hoàn tất. Thứ hai là sẽ tốn kém. Thúc ép như vậy thì đưa đến chuyện là mọi việc đều gấp rút, thời gian làm thêm ngoài giờ, làm thêm ban đêm tốn rất nhiều chi phí mà không cần thiết. Bởi vì có nhất thiết Long Thành phải hoạt động cuối năm 26 hay đầu năm 27 không? Chậm 1 năm, ngay cả chậm hơn nữa cũng chẳng sao cả. Người ta vịn vào một cái cớ rất là vô lý là sân bay Tân Sơn Nhất quá tải. Quá tải là gì? Quá tải là vượt quá sức hoạt động của nó. Thật sự quá tải chỉ xảy ra vào dịp Tết mà sân bay vẫn chịu đựng được. Tết vừa rồi có ngày tiếp nhận trên cả ngàn chuyến bay mà sân bay vẫn hoạt động. Cho nên không có một sự cấp bách gì mà phải đưa sân bay Long Thành vào hoạt động lấy cớ là vì Tân Sơn Nhất quá tải." Theo báo chí trong nước, vào đầu tháng 7, AVC đã đề xuất với chính phủ là thay vì chuyển toàn bộ hoạt động khai thác từ sân bay Tân Sơn Nhất sang Long Thành, hai sân bay sẽ được vận hành đồng thời theo phương án: Tân Sơn Nhất tiếp tục khai thác toàn bộ các đường bay nội địa cùng các đường bay quốc tế ngắn và trung bình, trong khi Long Thành “từng bước đảm nhận các đường bay quốc tế phù hợp nhằm phát huy công suất ngay từ giai đoạn đầu đưa vào khai thác” . Phương án này được xem là “nhằm khai thác tối đa năng lực của cả hai sân bay”. Cụ thể, trong giai đoạn đầu tiên (dự kiến từ 1/12/2026 – 27/3/2027), ACV đề xuất chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế đường dài từ sân bay Tân Sơn Nhất sang sân bay Long Thành. Giai đoạn 2 (từ 28/3/2027 đến hết năm 2030), toàn bộ các chuyến bay quốc tế còn lại sẽ chuyển sang sân bay mới. Giai đoạn sau năm 2030 sẽ chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế thường lệ sang khai thác tại sân bay Long Thành, còn Tân Sơn Nhất sẽ chủ yếu khai thác các chuyến bay nội địa. Ngày 30/06 vừa qua, ACV thông báo trong số các hãng nội địa, 3 hãng Vietnam Airlines, Vietjet Air và Vietravel Airlines đã chính thức đăng ký khai thác sân bay Long Thành. Đối với các hãng hàng không quốc tế, ACV trước đó cho biết đại diện 34 hãng "đã khảo sát thực địa và chuẩn bị cho việc khai thác sân bay Long Thành." Nhưng trong giới chuyên gia ở Việt Nam, không ít người quan ngại về tính khả thi của kế hoạch chuyển các chuyến bay quốc tế đến sân bay Long Thành. Trả lời Tạp chí Hàng không ngày 21/04/2026, ông Nguyễn Ngọc Luận, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Kinh doanh khí miền Nam, cho rằng các hãng hàng không Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải khai thác một phần các chuyến bay quốc tế tại sân bay Long Thành trong thời gian tới. Phương án khả dĩ hơn theo ông là trước mắt chỉ chuyển từ Tân Sơn Nhất về Long Thành các hãng hàng không nước ngoài có chặng đến và đi quốc tế (không khai thác quốc nội). Khách bay quốc tế các chặng này sẽ tự nối chuyến bằng xe hơi. Tuy nhiên phương án này lại chưa thuận tiện cho hành khách nối chuyến trong thời gian đầu do kết nối giao thông giữa hai sân bay chưa hoàn thiện. Nếu hạ cánh tại sân bay Long Thành mà muốn đi tiếp quốc nội thì hành khách phải đón xe về Tân Sơn Nhất (mất có khi đến 2 tiếng), cho nên khách từ nhiều nước có có thể sẽ chọn bay với hãng khác (như Thai Airways hay Singapore Airlines) quá cảnh tại Bangkok/Singapore để từ đó bay thẳng đến các điểm du lịch của Việt Nam. Về phần tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, ông nêu bật những thiệt hại của kế hoạch chuyển các chuyến bay đến Long Thành quá sớm: "Đó là vấn đề rất quan trọng mà người ta không suy nghĩ đúng mức về mặt thiệt hại kinh tế xã hội nếu như cưỡng ép những chuyến bay đang có thể hoạt động tại Tân Sơn Nhất ra Long Thành. Tôi có thể nói bất cứ người khách nào hiện đang sử dụng Tân Sơn Nhất mà bị ép buộc phải ra Long Thành, thì chắc chắn họ không muốn. Bao giờ Tân Sơn Nhất quá tải, cái đó là do các hãng hàng không quyết định : Nếu họ thấy tìm thêm slot để mở chuyến bay không có, Tân Sơn Nhất hết chỗ rồi, thì họ sẽ mở slot mới bên sân bay mới và nếu có đủ khách họ mới mở chuyến bay đó. Tôi nghĩ việc thực hiện những chuyến bay ở Long Thành phải để cho tự nhiên xảy ra, chứ không phải bằng mệnh lệnh hành chánh, điều hành khách từ sân bay này sang sân bay khác. Việc quản lý các sân bay Việt Nam rất vô lý, tập trung thành một công ty gọi là Tổng công ty Hàng không Việt Nam ACV, một công ty quản lý và có quyền điều động mọi thứ với nhau, rất là vô lý. Đơn cử bên Úc, họ xây một sân bay thứ nhì của Sydney, câu hỏi đặt ra là ai quản lý sân bay thứ nhì đó? Người ta bảo ưu tiên cho sân bay thứ nhất, nếu muốn, họ quản lý luôn sân bay thứ nhì. Nhưng họ đã từ chối, chỉ quản lý sân bay Kingsford Smith thôi. Cho nên người ta mới thành lập một cơ quan quản lý sân bay Sydney thứ nhì. Có nghĩa hai sân bay độc lập, bổ sung cho nhau, nhưng cạnh tranh với nhau. Và như vậy các hãng máy bay cảm thấy sân bay mới có thuận lợi gì thì họ đăng ký sử dụng sân bay đó. Sân bay Long Thành hiện nay cũng thông báo có nhiều hãng máy đăng ký để sử dụng. Nếu đó là đăng ký một tự nguyện thì tốt và nếu thời gian hoạt động mà có lợi người ta sẽ tăng dần cái chuyến bay tại Long Thành. Còn nếu không có lợi thì số lượng hành khách Long Thành sẽ ít và tôi nghĩ, nếu hay thì nó sẽ tăng từ từ một cách tự nhiên. Với tinh thần đó thì không có gì phải gấp rút. Hiện nay tôi thấy nó vô lý ở chỗ là có vẻ họ vẫn dùng mệnh lệnh nhà nước của thời kỳ mấy chục năm trước. Tôi cho rằng bắt buộc toàn bộ hay phần lớn các chuyến bay quốc tế dời ra Long Thành sẽ gây thiệt hại cho hãng hàng không và gây thiệt hại cho hành khách tại sân bay Tân Sơn Nhất, gây thiệt hại cho nền kinh tế." Ngoài ra theo trang mạng The Traveler trong bài viết đăng ngày 23/06/2026, các chuyên gia theo dõi ngành hàng không Việt Nam nhận định “ tiến độ dự án Long Thành hiện rất sít sao, hầu như không còn biên độ dự phòng cho các sự cố do thời tiết, tắc nghẽn nguồn cung, hay thay đổi thiết kế. Dù tiến độ thi công thường được báo cáo dưới dạng phần trăm hoàn thành, giới quan sát cảnh báo rằng những hạng mục phức tạp nhất – bao gồm hoàn thiện nội thất, tích hợp hệ thống và chứng nhận an toàn – vẫn còn ở phía trước và thường tiềm ẩn rủi ro chậm trễ cao hơn.” Cũng theo The Traveler, "những lo ngại về nguy cơ chậm tiến độ càng gia tăng do các thách thức về chi phí và công tác đấu thầu (... ). Mặc dù các cơ quan chức năng liên tục khẳng định quyết tâm hoàn thành dự án vào mốc thời gian năm 2026, nhưng ngân sách hạn hẹp cùng các thỏa thuận hợp đồng phức tạp làm tăng khả năng xảy ra tranh chấp, thay đổi thiết kế hoặc các yêu cầu phát sinh; những yếu tố này có thể gây chậm trễ cho một số hạng mục quan trọng của dự án." Số vốn đầu tư lên đến 16 tỷ đôla cho sân bay Long Thành cũng đã bị chỉ trích và ngay chính tổng bí thư Tô Lâm cũng đã nêu vấn đề này trong một bài phát biểu tại một hội nghị ngày 25/02/2026: “Nếu quy mô 16 tỷ đôla thì kinh khủng. Nhưng tôi hỏi có vượt trội hơn được Malaysia và Singapore thì không chứng minh được. Tôi hỏi bao lâu thu hồi được vốn cho nhà nước cũng không trả lời được. Tôi hỏi sân bay Long Thành này mỗi năm đóng góp cho tăng trưởng kinh tế là bao nhiêu cũng không tính toán được.” Theo ông Tô Lâm, chính vì vậy dự án này dễ "nảy sinh ra lãng phí, tiêu cực, thậm chí thất thoát". Theo trang mạng The Traveler, công tác phòng chống tham nhũng cũng làm phức tạp thêm cho dự án. Các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn có thể làm chậm quá trình ra quyết định hoặc phê duyệt do phải rà soát lại hồ sơ, đặc biệt là đối với các hạng mục thay đổi hoặc phát sinh thường xuất hiện ở giai đoạn sau của quá trình thi công. The Traveler cũng ghi nhận hạ tầng kết nối giao thông chưa bắt kịp tiến độ của sân bay mới. Ngay cả khi các hạng mục cốt lõi của sân bay hoàn thành đúng hạn, vẫn còn đó những câu hỏi về khả năng tiếp cận sân bay Long Thành từ TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Nếu hạ tầng giao thông mặt đất không hoàn thiện kịp thời, những hành khách đầu tiên sử dụng sân bay Long Thành có thể phải đối mặt với thời gian di chuyển dài và khó lường, làm giảm đi lợi thế về sự thuận tiện mà sân bay này hứa hẹn mang lại. Về phần mình, ông Nguyễn Thiện Tống cũng nhấn mạnh đến những bất cập về kết nối giao thông với sân bay Long Thành: "Ngay cả kết nối tốt, nghĩa là có các đường cao tốc, có metro kết nối tốt, thì vẫn là tốn thời gian nếu như xét từ Thành phố Hồ Chí Minh, tạo ra sự bất lợi cho hàng không. Vì khoảng đường xa mà hiện nay kết nối không đầy đủ thì nguy cơ kẹt xe, nguy cơ chậm chuyến bay rất là cao. Không ai bảo đảm được giờ chính xác để đi ra sân bay, cũng như đi về. Đi trễ thì máy bay bay mất mà những hành khách bị kẹt xe và sẽ bị thiệt hại rất lớn. Nguy cơ kết nối không tốt làm cho hành khách không sử dụng sân bay có thể đưa đến viễn cảnh sân bay xây dựng hoành tráng mà trở thành lãng phí. Làm metro mà đến năm 2030 mới được hoạt động được, thế thì 3 năm không có phương tiện kết nối metro thì làm sao mà Long Thành thuận lợi được. Đường bộ thì bây giờ mới bắt đầu mở rộng và tốn rất nhiều tiền nhưng không chắc bảo đảm rằng thời gian đi ra Long Thành là vừa phải để không bị trễ chuyến bay. Không lo trước kết nối là sai lầm rất lớn khi xây sân bay Long Thành. Và bây giờ đã lỡ như vậy rồi thì càng không nên thúc hối sân bay Long Thành quá nhanh. Nếu mà chậm sân bay Long Thành chừng nào thì kết nối sẽ được thời gian để mà hoàn thiện, để phát triển nhanh lên chừng đó. Hiện nay việc kết nối chưa đầy đủ, tiến độ xây dựng không kịp thời mà thúc hối nhanh là một chuyện rất không hợp lý. Rồi xây nhà ga rất là lớn, diện tích quá nhiều. Chưa hết: kế hoạch ban đầu xây một đường băng thôi lại thúc hối để chính phủ ra quyết định làm thêm đường băng thứ nhì nữa là rất là lãng phí. Nói rằng dự phòng nếu trục trặc đường băng thứ nhất thì sử dụng đường băng thứ nhì. Rất là sai. Bởi vì nếu có trục trặc gì trong vấn đề cất cánh thì máy bay nằm đó chờ hoặc hủy chuyến bay. Còn hạ cánh có thể hạ cánh sân bay gần nhất là Tân Sơn Nhất. Không cần phải xây dựng đường băng mà lãng phí. Rất là lạ lùng. Phải nói là từ đầu thiết kế một sân bay hoành tráng quy mô lớn như vậy mà không tính toán, để rồi nửa chừng thi công giai đoạn 1 lại bổ sung làm thêm đường băng thứ nhì, quyết định một cách tôi cho rằng rất là cẩu thả, rất là lãng phí." Về hệ thống giao thông kết nối Thành phố Hồ Chí Minh với sân bay Long Thành, ngày 30/06 vừa qua, thành phố Đồng Nai đã khởi công xây dựng hai tuyến đường là Đường vành đai 4 dài hơn 46 km và Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh dài 15,5 km. Nhưng hiện chưa biết khi nào những công trình này sẽ hoàn thành. Về metro thì chính quyền TP Hồ Chí Minh đã công bố kế hoạch khởi công tuyến Thủ Thiêm - Sân bay Long Thành trước ngày 02/09, dự kiến đến năm 2030 sẽ hoàn thành. Nhưng ai cũng biết dự án metro rất phức tạp, khó mà bảo đảm tiến độ đề ra. Trước mắt, trục lộ duy nhất đi từ TP Hồ Chí Minh đến sân bay là cao tốc TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây vẫn thường xuyên bị kẹt xe nghiêm trọng. Hiện giờ đoạn từ TP Hồ Chí Minh đến Long Thành đang được mở rộng. Để giảm bớt sự phụ thuộc độc đạo vào trục cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, mạng lưới hạ tầng kết nối xung quanh sân bay cũng đang được các địa phương gấp rút xây dựng, cụ thể là 2 tuyến đường dẫn kết nối trực tiếp T1 và T2 (dài hơn 11 km nối từ QL51 vào đến trung tâm nhà ga sân bay).
Việt Nam là đối tượng ba cuộc điều tra chỉ trong vài tháng theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 của Mỹ: sản xuất dư thừa, lao động cưỡng bức, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, theo VOV, Mỹ mở 82 cuộc điều tra phòng vệ thương mại với Việt Nam, đứng đầu các nước điều tra (321 vụ tính đến hết tháng 05/2026). Những biện pháp này có thể dẫn đến “hành động khắc phục” trong bối cảnh thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ không ngừng tăng. Tại sao các cuộc điều tra lại được tiến hành vào thời điểm này ? Những biện pháp này của Mỹ sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam, cũng như đến mối quan hệ song phương ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon (Université catholique de Lyon) và Viện Đông Á (IAO), Trường Sư phạm Lyon tại Pháp (Ecole normale supérieure de Lyon). RFI : Việt Nam là đối tượng của ba cuộc điều tra của Mỹ (sản xuất dư thừa, lao động cưỡng bức, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ). Tại sao ba cuộc điều tra này lại được tiến hành vào thời điểm này ? Laurent Gédéon : Trước tình hình hiện nay, chúng ta nhìn lại một chút diễn biến. Ngày 16/05/2025, sau cuộc họp bộ trưởng APEC lần thứ 31 về thương mại tại Jeju (Hàn Quốc), bộ trưởng Công Thương Việt Nam khi đó là ông Nguyễn Hồng Diên, trưởng đoàn đàm phán Việt Nam, đã đàm phán với đại diện Thương Mại Mỹ Jamieson Greer. Hai bên thông báo đạt được thỏa thuận về các nguyên tắc, cách tiếp cận, định hướng nội dung và kế hoạch đàm phán nhằm hướng tới một hiệp định thương mại song phương. Tiếp đó, hai vòng đàm phán kỹ thuật được tổ chức tại Washington vào tháng 05 và tháng 06/2025. Đến tháng 10/2025, Việt Nam và Mỹ công bố bản tuyên bố chung thiết lập khuôn khổ cho một hiệp định thương mại song phương công bằng và cân bằng. Tuy nhiên, sau nhiều tháng đàm phán, hai bên vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng. Các cuộc đàm phán vẫn bị đình trệ do những bất đồng quan trọng, đặc biệt là về tiếp cận thị trường và thặng dư thương mại rất lớn của Việt Nam với Mỹ, không ngừng gia tăng khi nhiều doanh nghiệp quốc tế chuyển hoạt động sản xuất sang Việt Nam trong quá trình tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu. Tình hình này càng trở nên đáng lo ngại hơn khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt 193 tỷ đô la năm 2025. Tuy nhiên, cán cân thương mại lại mất cân đối khi thâm hụt thương mại của Mỹ với Việt Nam tăng lên 178,2 tỷ đô la. Đây có thể là một trong những yếu tố giải thích cho việc Mỹ mở hai cuộc điều tra đầu tiên nhắm vào Việt Nam vào tháng 03/2026, theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, tập trung vào các hành vi thương mại không công bằng, (tình trạng dư thừa năng lực sản xuất và lao động cưỡng bức). Đọc thêm Trước nguy cơ Mỹ áp thuế, Việt Nam trấn áp mạnh nạn vi phạm bản quyền trực tuyến Đến ngày 29/05, ông Jamieson Greer thông báo cuộc điều tra thứ ba, cũng dựa trên Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, về chính sách bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam nhằm đánh giá tác động đối với thương mại Mỹ. Cuộc điều tra này có thể tạo cơ sở để Washington áp dụng thêm các biện pháp thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam. Quyết định của ông Greer được đưa ra sau báo cáo thường niên công bố ngày 30/04, trong đó, Việt Nam bị Mỹ chỉ định là « mối quan ngại lớn » và đặc biệt là bị xếp vào nhóm « Ngoại quốc ưu tiên » về quyền sở hữu trí tuệ. Đây là mức đánh giá nghiêm trọng nhất dành cho các quốc gia có những hành động và chính sách gây ảnh hưởng tiêu cực lớn đến quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ. Đây là lần đầu tiên sau 13 năm, Việt Nam bị đưa vào nhóm này. Việc bị xếp hạng cũng phản ánh quan điểm của Washington rằng Việt Nam chưa đạt được tiến triển đáng kể trong các cuộc đàm phán nhằm cải thiện việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Trong khi Trung Quốc, Ấn Độ, Chilê, Indonesia, Nga và Venezuela chỉ nằm trong « Danh sách giám sát ưu tiên » , Việt Nam là quốc gia duy nhất thuộc nhóm « Ngoại quốc ưu tiên » . Bối cảnh kinh tế bất lợi và sự chậm trễ trong đàm phán buộc Washington gia tăng áp lực đối với Hà Nội. Cũng có thể do sắp đến cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ (tháng 11/2026), tổng thống Donald Trump cần những chiến thắng, cả về kinh tế lẫn quân sự, để thể hiện với cử tri của ông. RFI : Chính quyền Mỹ có thể sẽ đưa ra những biện pháp nào trong trường hợp Việt Nam bị cáo buộc ? Laurent Gédéon : Những phân tích trên cho thấy có nhiều khả năngchính quyền Trump sẽ gia tăng sức ép thương mại đối với Việt Nam do nền kinh tế Việt Nam, như đã đề cập, phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Trong bối cảnh đó, tổng thống Mỹ có thể có đủ cơ sở pháp lý để đơn phương áp đặt thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam, với lý do Việt Nam có những hành vi thương mại không công bằng. Tuy nhiên, đại diện Thương Mại Mỹ cho biết sẽ tham vấn tổng thống Donald Trump để đánh giá có cần áp dụng các « biện pháp khắc phục » hay không. Ông cũng nhấn mạnh quá trình này có thể kéo dài nhiều tháng. Trong một tuyên bố, ông cũng cho biết sẽ theo dõi liệu Việt Nam có chủ động giải quyết những quan ngại tồn tại lâu nay bằng các biện pháp « bền vững và đủ sức răn đe nhằm ngăn ngừa các vi phạm tương tự trong tương lai » hay không. Điều này cho thấy Hoa Kỳ hiện vẫn ưu tiên đàm phán và muốn duy trì quan hệ với Việt Nam, quốc gia được Washington xem là đối tác quan trọng trong bối cảnh địa-chính trị châu Á đang rất nhạy cảm và phức tạp. Đọc thêm Việt Nam có thể đáp ứng các yêu cầu của Mỹ trước khi mối quan hệ thương mại rạn nứt ? Cũng có khả năng Washington sẽ gây sức ép để Hà Nội ký Hiệp định Thương mại Đối ứng (Agreement on Reciprocal Trade - ART), tương tự như thỏa thuận giữa Mỹ và Malaysia. Một hiệp định như vậy có thể bao gồm các điều chỉnh về thuế quan, tăng cường hợp tác theo ngành và trong lĩnh vực quy định pháp lý, cũng như mở rộng khả năng tiếp cận thị trường của cả hai bên. Cần lưu ý rằng một trong những hệ quả của các hiệp định ART là tăng cường sự gắn kết giữa các đối tác với Hoa Kỳ, kể cả trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế Mỹ - Trung ngày càng gay gắt. Nhìn chung, Mỹ hoàn toàn có khả năng áp dụng các biện pháp bất lợi đối với Việt Nam, đặc biệt là thuế quan, nhưng trước mắt nhiều khả năng là Washington chưa hành động ngay, ưu tiên đàm phán và sẽ chờ. RFI : Những cuộc điều tra này, cũng như bất kỳ biện pháp trừng phạt nào nếu có từ Mỹ, có thể sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam ? Laurent Gédéon : Nếu các biện pháp trừng phạt được áp dụng, chúng sẽ gây tác động đáng kể đối với Việt Nam. Trước tiên, cần nhắc lại kể từ khi Hiệp định Thương mại song phương được ký năm 2000, kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam đã tăng mạnh mẽ, từ 1 tỷ đô la năm 2001 lên 193 tỷ đô la năm 2025. Những con số này rất ấn tượng nhưng cần đặt chúng trong bối cảnh tổng thể. Dù Việt Nam đạt thặng dư thương mại song phương rất lớn với Mỹ, lên tới 178 tỷ đô la năm 2025 nhưng hàng hóa Việt Nam chỉ chiếm khoảng 5,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ (3.400 tỷ đô la) và chiếm khoảng 0,6% GDP của Mỹ. Những yếu tố này cho thấy Washington đang nắm lợi thế trong đàm phán với Hà Nội. Ngược lại, do nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu sang thị trường Mỹ (khoảng 27% tổng kim ngạch xuất khẩu), các biện pháp trả đũa thương mại từ Washington có thể gây tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam. Đọc thêm Thương mại : Tách Mỹ hay rời Trung Quốc ? Việt Nam tìm cách cân bằng đôi bên Đó cũng là lý do Hà Nội đã phản ứng rất nhanh trước các quan ngại của Mỹ. Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam quyết tâm chống các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Ngày 07/05, chỉ một tuần sau khi Báo cáo của đại diện Thương Mại Mỹ được công bố, chính phủ Việt Nam đã phát động chiến dịch kéo dài một tháng nhằm xử lý các trang web vi phạm bản quyền, hàng giả và hành vi xâm phạm nhãn hiệu, với mục tiêu tăng 20% số vụ truy tố. Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam triển khai các biện pháp như vậy. Năm 2025, Hà Nội cũng tiến hành một chiến dịch tương tự ngay sau khi chính quyền Trump công bố mức thuế 46% đối với hàng hóa Việt Nam. Mức thuế này sau đó được giảm xuống còn 20% vào tháng 07/2025 và tiếp tục hạ xuống 10% vào tháng 02/2026 theo phán quyết của Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ. RFI : Như ông đã đề cập Việt Nam đã phản ứng thông qua tuyên bố và hành động. Trên thực tế, Việt Nam cần phản ứng và giải quyết tình hình này như thế nào ? Liệu các biện pháp mà Hoa Kỳ thực hiện có ảnh hưởng đến quan hệ giữa hai nước, vốn đã căng thẳng về vấn đề thâm hụt thương mại ? Laurent Gédéon : Quan hệ Mỹ - Việt trải qua nhiều biến động trong những tháng gần đây và nguy cơ Washington áp đặt các biện pháp trừng tài chính có thể khiến tình hình thêm phức tạp. Điều này đánh dấu sự thay đổi đáng kể so với năm 2023, dưới thời chính quyền Biden, quan hệ song phương đạt đến đỉnh cao với Đối tác chiến lược toàn diện. Dưới thời tổng thống Trump, Washington đảo ngược xu hướng bằng một loạt biện pháp thuế quan. Việt Nam phản đối cách tiếp cận này, đặc biệt là các mức thuế nhắm vào ngành nội thất - lĩnh vực có mức tăng trưởng nhanh và được Hà Nội ưu tiên phát triển. Theo phía Việt Nam, chính sách của Washington còn trở nên khó dự đoán do lập trường thiếu nhất quán của ông Trump. Trong khi đó, Việt Nam ở thế bất lợi vì phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sang Mỹ nhưng không có khả đưa ra các cam kết đầu tư lớn vào Mỹ như các nền kinh tế phát triển hơn (Nhật Bản, Hàn Quốc) để đổi lấy những nhượng bộ thương mại. Bên cạnh các bất đồng kinh tế, một số yếu tố chiến lược cũng làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ song phương. Mùa hè 2025, xuất hiện thông tin Việt Nam ký các hợp đồng lớn với Nga để mua các hệ thống phòng không, phòng thủ trên biển, bất chấp các lệnh trừng phạt quốc tế. Theo điều tra được báo New York Times công bố ngày 27/10/2025, Việt Nam mua của Nga một hệ thống tác chiến điện tử dành cho tiêm kích Su-35, có khả năng gây nhiễu và đánh lạc hướng tên lửa. Tổng trị giá các hợp đồng là khoảng 8 tỷ đô la, bao gồm 40 chiến đấu cơ mới. Yếu tố thứ hai là báo cáo của tổ chức phi chính phủ Project88, theo đó các nhà hoạch định quân sự Việt Nam đang bí mật chuẩn bị cho khả năng xảy ra một cuộc xâm lược từ Mỹ và các đồng minh, bất chấp việc hai nước đã nâng cấp quan hệ lên mức Đối tác chiến lược toàn diện (ngang hàng với thỏa thuận giữa Việt Nam và Nga, Trung Quốc) và xác định Mỹ và Việt Nam là « những đối tác đáng tin cậy gắn kết bởi tình hữu nghị dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau » . Báo cáo của Project88 dựa trên một tài liệu nội bộ của Hải Quân Việt Nam trực thuộc bộ Quốc Phòng ban hành ngày 01/08/2024 với tiêu đề Kế hoạch xâm lược thứ hai của Mỹ. Tài liệu nhận định « nguy cơ chiến tranh với Việt Nam hiện còn thấp » nhưng cảnh báo : cần cảnh giác trước khả năng Mỹ và các đồng minh tạo ra một "cái cớ" để tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đọc thêm Việt Nam xích lại gần Mỹ nhưng vẫn nuôi ngờ vực chiến lược Văn bản cũng bày tỏ lo ngại về khả năng các thế lực bên ngoài kích động nổi dậy nhằm chống lại sự lãnh đạo của Nhà nước. Báo cáo cho rằng trong quá trình tăng cường năng lực răn đe đối với Trung Quốc, Mỹ có thể sử dụng các hình thức chiến tranh phi truyền thống, can thiệp quân sự hoặc thậm chí tiến hành các cuộc xâm lược quy mô lớn nhằm vào những nước bị coi là « rời khỏi quỹ đạo » của Washington. Những diễn biến gần đây tại Venezuela, Iran cũng như những đe dọa đối với Cuba càng làm gia tăng sự cảnh giác của giới lãnh đạo Việt Nam. Trong bối cảnh đó, nhiều khả năng Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách cân bằng, duy trì khoảng cách tương đối với Hoa Kỳ. Một dấu hiệu cho thấy xu hướng này là Hội nghị cấp cao "3+3" đầu tiên giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra ngày 16/03 với sự tham dự của các bộ trưởng Công An, Quốc Phòng và Ngoại Giao hai nước. Sau hội nghị, tổng bí thư Tô Lâm đã có cuộc gặp riêng với phái đoàn Trung Quốc. Đây là một mắt xích trong chuỗi tiếp xúc cấp cao giữa Bắc Kinh và Hà Nội kể từ tháng 10/2025, khi ông Tô Lâm gặp thủ tướng Trung Quốc Lý Cường bên lề cuộc duyệt binh tại Bắc Triều Tiên. Cuộc gặp này diễn ra chỉ một tháng sau cuộc gặp đầu tiên giữa ông Tô Lâm và tổng thống Mỹ Donald Trump và cho thấy Hà Nội vẫn mong muốn duy trì quan hệ chặt chẽ với Bắc Kinh nhằm củng cố vị thế của mình trước các sức ép từ Washington. RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp. Đọc thêm Tô Lâm và canh bạc cải cách của Việt Nam trong sóng gió toàn cầu
Cũng như nhiều nước khác, trước tình hình nguồn cung dầu hỏa bị gián đoạn do chiến tranh Mỹ-Iran, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam buộc phải dựa vào điện than nhiều hơn cho dù làm như vậy sẽ càng khó mà thực hiện các cam kết về chống biến đổi khí hậu. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), hơn 80% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua eo biển Hormuz là được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị phong tỏa đẩy khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Đặc biệt, do nguồn cung khan hiếm, giá khí LNG đã tăng vọt ở thị trường châu Á, trong khi giá than tăng ít hơn nhiều, cho nên nhiều nước trong khu vực quay trở lại với điện than. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 12/05/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cũng ghi nhận đây là tình hình chung của các nước châu Á: “Không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết nhiều nước ở châu Á và các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ... đều bị tác động. Trung Quốc là một nước có rất nhiều than, cho nên có lợi thế. Bây giờ họ quay sang sử dụng than nhiều hơn trong một thời gian, tuy cũng biết làm như thế là ảnh hưởng đến lời hứa của Trung Quốc về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Các chuyên gia, các công ty về quản lý năng lượng lớn thế giới đều dự báo Trung Quốc trong 5 năm tới vẫn phải dựa vào việc mở rộng các nhà máy điện chạy than, chứ không có cách nào khác cả. Ấn Độ cũng vậy. Còn những nước như Hàn Quốc và Nhật Bản trước tình hình hiện nay đều phải cho phép nâng lên tỷ lệ điện than.” Theo nhận định của Discovery Alert, trang thông tin chuyên về khai thác mỏ trên thế giới, trong bài viết đăng ngày 13/04/2026, “không giống như các quốc gia phát triển có các nguồn năng lượng đa dạng và dự trữ chiến lược dồi dào, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu và thiếu tính linh hoạt về cơ sở hạ tầng để nhanh chóng chuyển đổi giữa các nguồn năng lượng trong trường hợp khẩn cấp về nguồn cung. Hơn nữa, các quốc gia này còn đối mặt với tác động của thị trường khí hóa lỏng (LNG) và sự biến động giá dầu, làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương của kinh tế.” Discovery Alert ghi nhận việc Việt Nam dựa vào điện than khi chiến tranh Mỹ-Iran leo thang đã trở nên rõ nét trong tháng 3/2026, khi sản lượng điện than tăng vọt, chiếm 56% tổng sản lượng điện, mức cao nhất kể từ giữa năm 2025. Giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa nhiều vào điện than, vì các nguồn điện năng khác không đủ để đáp ứng nhu cầu: “Việt Nam hiện nay đã sống với điện than. Điện than bình thường chiếm tỷ lệ gần 50% công suất phát điện, cho nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Mà về điện than, Việt Nam phải đi mua thêm than của các nước như Indonesia và Trung Quốc, cụ thể là tháng 3 vừa rồi đã nhập đến mấy triệu tấn than. Dự kiến con số đó có thể sẽ phải tăng lên. Kinh phí để nhập khẩu than cũng lớn, nhưng bây giờ dầu sao thì vẫn hơn là không có. Cho nên tạm thời trong một thời gian phải sử dụng điện than và theo tôi nghĩ Việt Nam cũng chưa có cách nào khác. Còn nếu dựa vào những nguồn năng lượng khác, thì bây giờ nguồn năng lượng tái tạo cũng đã được khai thác khá nhiều rồi và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng nguồn năng lượng này cũng hạn chế, không thể nâng lên nhiều hơn nữa. Gần đây nhiều người nói về điện hạt nhân. Nếu có được thì điện hạt nhân sẽ là một giải pháp tương đối lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện thay cho than. Đó là một loại năng lượng sạch. Thế nhưng chưa biết là bao giờ mới có thể đặt bút ký với một đối tác bên ngoài để cung cấp nhà máy điện hạt nhân cho mình. Từ thời điểm đó thì sau hàng chục năm nữa may ra mới có điện. Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy nước này bắt đầu có kinh phí để xây dựng và có các hợp đồng liên chính phủ là vào năm 2017. Nhưng tới cuối năm 2026 thì may ra mới có thể đưa điện lên lưới được. Gần đây thế giới cũng hô hào đẩy mạnh điện hạt nhân, nhưng điện hạt nhân đâu có dễ làm đối với Việt Nam cũng như đối với những nước khác . Đó không phải là một công nghệ có sẵn như than. Nhà máy điện chạy than thì quá là cổ điển rồi, mua về là có thể lắp đặt và cho chạy được ngay. Còn điện hạt nhân thì cần bao nhiêu thứ: cơ sở hạ tầng, năng lượng, nhiên liệu, an toàn…. Bây giờ có một hy vọng là khí thiên nhiên từ các mỏ khí mới được phát hiện được, sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng ở Việt Nam." Thế nhưng vấn đề là hiện nay công suất điện khí còn khiêm tốn của Việt Nam càng làm hạn chế các giải pháp thay thế trong thời kỳ khủng hoảng. Các nhà máy điện khí chỉ sản xuất được 2,1 TWh trong tháng 3 năm 2026, chiếm khoảng 7% tổng sản lượng điện. Hạn chế về cơ sở hạ tầng này có nghĩa là khí đốt tự nhiên không thể đóng vai trò cơ chế thay thế tức thời khi giá năng lượng nhập khẩu tăng vọt, hoặc khi nguồn cung bị gián đoạn. Việt Nam cũng đang phải sản xuất than nhiều hơn để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo báo chí trong nước, ngày 15/04, bộ Nông Nghiệp và Môi Trường đã đề nghị chính phủ cho phép tăng công suất khai thác than, cụ thể là cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo bộ này, “than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng”. Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vừa được khánh thành ngày 18/04. Đây là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó 60% cổ phần thuộc về các công ty Nhật Bản đứng đầu là tập đoàn Mitsubishi và 40% cổ phần thuộc về Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc. Với tổng công suất hơn 1.300MW, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được giới thiệu là sử dụng “công nghệ hiện đại nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam” , làm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu dẫn đến cắt giảm phát thải. Vấn đề đặt ra là phải làm sao hạn chế tác động của các nhà máy điện than đối với môi trường và khí hậu, bởi vì Việt Nam còn phải thực hiện những cam kết với quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận: “Các nhà máy điện chạy than bây giờ cũng sử dụng những công nghệ tương đối là tiên tiến, tránh ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nay cũng đỡ một phần là bởi vì ngày xưa các nhà máy phát ra bừa bãi từ ống khói chứ bây giờ thì có những quy chế nhất định. Các khí thải từ nhà máy điện than thì cũng đã bắt đầu được xử lý để không gây ô nhiễm môi trường. Rồi còn phải xử lý những xỉ than. Lâu lâu thì vẫn thấy nói có ô nhiễm chỗ này chỗ khác, nhưng tôi chắc là dần dần rồi cũng phải giải quyết. Ô nhiễm ở chỗ nào thì người dân ở đó sẽ phản ảnh, các cơ quan có trách nhiệm phải giải quyết. Thực ra mà nói thì dùng điện than không chỉ làm tăng lượng khí CO2, mà còn có rất nhiều khí độc khác từ nhà máy điện than thải ra. Trung Quốc đã thành công trong vấn đề này, cho nên bắt đầu từ 2006, tức là cách đây đến 20 chục năm, họ đã có quyết định của nhà nước là bắt buộc giảm phát thải các cái khí độc từ các nhà máy điện chạy than. Và họ đã thành công nhiều, tức là giảm ô nhiễm khá nhiều. Thế thì bây giờ nếu sản lượng điện than nhiều quá, thì có lẽ cũng phải đề nghị nhà nước có một cách kiểm tra toàn diện, làm thế nào để các khí phát thải ô nhiễm, không chỉ CO2 và các khí ô nhiễm khác đều thấp, phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam." Cũng theo chiều hướng đó, Việt Nam dự kiến sẽ đóng cửa các nhà máy điện than cũ trên 40 năm tuổi, nếu các nhà máy này không thể chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch như hydrogen, amoniac xanh. Cụ thể, ngày 23/03, chính phủ Hà Nội đã phê duyệt "Đề án cập nhật triển khai tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng" (JETP). Sau năm 2030, chính phủ yêu cầu không xây mới nhà máy điện than, đồng thời đàm phán đóng cửa với các nhà máy có tuổi thọ trên 40 năm, không thể chuyển đổi nhiên liệu và không thể đáp ứng lộ trình giảm thải khí nhà kính.
Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA. Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ? Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa. Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc. Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa. Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn. Đọc thêm Việt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực. Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng. Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác. Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng. RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ? Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương. Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất. Đọc thêm Việt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển. Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình. Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022. ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự. Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp. Đọc thêm Nhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc. Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn. RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao. Đọc thêm Nhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện. Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
Ngày 07/04/2026, tổng bí thư Đảng kiêm chủ tịch nước Tô Lâm đã ký quyết định phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), đưa Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á và là nước thứ hai trên thế giới chính thức phê chuẩn Công ước này. Công ước mang tên Hà Nội là vì lễ ký Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2025. Cho tới nay đã có 75 quốc gia ký công ước này. Tuy nhiên, Công ước Hà Nội sẽ chỉ có hiệu lực một khi có đủ 40 quốc gia chính thức phê chuẩn để trở thành thành viên chính thức. Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày càng trở thành một trong những trung tâm của tội phạm mạng trên thế giới. Trong một bài viết đăng trên mạng ngày 09/03/2026, công ty Okta, chuyên về quản lý danh tính ( Identity Management ), cho biết: “Một hệ sinh thái tội phạm mạng rộng lớn bắt nguồn từ Việt Nam đã được liên kết với các chiến dịch đăng ký tài khoản giả mạo quy mô lớn nhắm vào các nhà cung cấp dịch vụ và nền tảng trực tuyến trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu đã truy tìm hoạt động này đến một cụm cơ sở hạ tầng được đặt tên nội bộ là O-UNC-036, sử dụng địa chỉ email dùng một lần và bot tự động để tạo ra các danh tính kỹ thuật số giả mạo ở quy mô đáng báo động.” Theo công ty này, các tội phạm sử dụng những tài khoản trực tuyến gian lận như một cánh cửa để thực hiện các hoạt động tội phạm tài chính, từ thư rác và lừa đảo trực tuyến đến các vụ lừa đảo cá nhân. Các tổ chức tội phạm có tổ chức ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở khu vực gần biên giới Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan và Cam Bốt dùng những thủ đoạn này để dụ dỗ nạn nhân vào các vụ lừa đảo tiền điện tử, lừa đảo tình cảm và tống tiền tình dục,... Các nhà phân tích của Okta đã xác định được một lượng lớn các đăng ký tài khoản đáng ngờ liên kết với nhiều tên miền email dùng một lần, trở thành sợi dây liên kết quan trọng giữa hoạt động này với một thị trường lừa đảo rộng lớn hơn có trụ sở tại Việt Nam. Thiệt hại về tài chính từ hoạt động này là rất lớn. Trong một báo cáo tháng 4/2025, Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) đã chỉ ra rằng thị trường ngầm này hiện có những người chuyên buôn bán bộ công cụ lừa đảo, dữ liệu bị đánh cắp, phần mềm độc hại, công cụ dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dịch vụ rửa tiền được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các nạn nhân trên toàn cầu. Chính là để phòng chống những hoạt động lừa đảo trực tuyến như trên mà Công ước Hà Nội thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện về phòng ngừa, phát hiện, điều tra, truy tố và hợp tác quốc tế trong xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 22/05/2026, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), cho biết Việt Nam đã chuẩn bị như thế nào cho việc tham gia Công ước Hà Nội : "Thứ nhất là Việt Nam đã hoàn thiện khung pháp lý nội địa, đặc biệt là trong các lĩnh vực an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và xử lý chứng cứ điện tử. Có thể nói rằng trong những năm trở lại đây, Quốc Hội của Việt Nam và các cơ quan, trong đó có vai trò rất là lớn bộ Công An Việt Nam, đã điều chỉnh, bổ sung và ban hành các luật, khung pháp lý nội địa rất kịp thời trong lĩnh vực an ninh mạng và xử lý điện tử, chứng cứ điện tử. Thứ hai là Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ trong việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật, đặc biệt là đào tạo chuyên sâu cho các lực lượng điều tra tội phạm công nghệ cao. Song song với đó, đầu tư vào các hệ thống cơ sở hạ tầng số cũng rất là ổn định để kịp thời trước lúc tham gia Công ước Hà Nội. Thứ ba là tăng cường hợp tác quốc tế thông qua các cơ chế song phương, đa phương mà Việt Nam đã tham gia. Việt Nam không tham gia Công ước Hà Nội một cách hình thức mà đang từng bước thích nghi với các chuẩn mực toàn cầu về quản trị an ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao." Công ước Hà Nội quy định đầy đủ các vấn đề từ hình sự hóa hành vi phạm tội, thẩm quyền điều tra, dẫn độ, tương trợ tư pháp, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân. Các hành vi như truy cập trái phép, đánh cắp dữ liệu, gian lận điện tử, tấn công cơ sở hạ tầng trọng yếu, sử dụng không gian mạng để tài trợ khủng bố hay rửa tiền bằng tài sản số đều được định danh rõ ràng. Quan trọng hơn, Công ước tạo ra “chuẩn mực pháp lý chung” , giúp các quốc gia phối hợp hiệu quả trong xử lý các vụ án xuyên biên giới. Việc tham gia Công ước giúp Việt Nam có thêm công cụ pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích: "Công ước Hà Nội quy định rất toàn diện các vấn đề về hình sự hóa tội phạm mạng, thẩm quyền điều tra, hợp tác quốc tế, dẫn độ, hỗ trợ tư pháp và bảo vệ dữ liệu và cá nhân. Công ước mang lại cho Việt Nam một số công cụ pháp lý rất quan trọng, đáng chú ý ở đây là chia sẻ thông tin và chứng cứ điện tử nhanh hơn giữa các quốc gia. Có thể nói đây là một trong những yếu tố then chốt trong điều tra tội phạm mạng xuyên biên giới. Ngoài ra, Công ước Hà Nội còn hỗ trợ cho phía Việt Nam và các cơ quan tư pháp hình sự của Việt Nam hài hòa các định nghĩa, các cách tiếp cận về pháp lý liên quan đến tội phạm mạng giữa các quốc gia. Thứ hai là tăng cường cơ chế tương trợ tư pháp và dẫn độ khi triển khai Công ước Hà Nội. Thứ ba là Công ước này sẽ hỗ trợ trực tiếp các cuộc điều tra chung. Khi được thông qua, Công ước Hà Nội sẽ có thêm cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý cụ thể và chính thống để tiến hành các cuộc điều tra chung, thành lập các đội điều tra chung ( investigation teams ) giữa các nước trong khu vực và thế giới, khi phát sinh các yếu tố liên quan đến phòng chống tội phạm mạng, đặc biệt là trong các vụ lừa đảo xuyên quốc gia và rửa tiền kỹ thuật số. Điều này giúp đáng kể khoảng trống pháp lý mà tội phạm mạng thường lợi dụng. Hiện nay không gian mạng rất khó kiểm soát và không có biên giới." Những công cụ mới mà Công ước Hà Nội mang lại sẽ tác động như thế nào đến việc phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải dự báo: "Ở đây ta có thể tiếp cận từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất là tác động của Công ước Hà Nội đối với Việt Nam. Góc độ thứ hai là tác động của Công ước Hà Nội đối với các đối tác của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Đầu tiên là trong nước, Công ước Hà Nội sẽ giúp cho Việt Nam, cụ thể là các cơ quan chức năng như bộ Công An hoặc bộ Thông Tin Truyền Thông, chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm mạng, vừa bám theo Công ước Hà Nội, vừa nội hóa các luật nội địa Việt Nam đã ban hành, ví dụ như Luật an ninh mạng và gần đây nhất là luật về trí tuệ nhân tạo AI. Nó sẽ giúp chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm liên quan đến không gian mạng, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thu thập chứng cứ điện tử, thúc đẩy cách tiếp cận dựa trên dữ liệu và bằng chứng trong thực thi pháp luật của các cơ quan ở Việt Nam. Cấp độ thứ hai là với các đối tác của Việt Nam trong khu vực ASEAN, cũng như các nước ngoài ASEAN, trong đó có Úc, Châu Âu, hay Mỹ. Ở cấp độ xuyên quốc gia, tác động sẽ rõ nét hơn. Công ước tạo nền tảng cho việc phối hợp hành động nhanh hơn giữa các quốc gia, đặc biệt là trong việc truy xét dòng tiền, xác định máy chủ và triệt phá các mạng lưới tội phạm hoạt động ở nhiều quốc gia cùng một lúc trên không gian mạng. Tuy nhiên ở đây tôi cũng cần lưu ý rằng hiệu quả thực sự sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ thực thi và niềm tin giữa các quốc gia. Bởi vì xây dựng niềm tin pháp lý, chia sẻ thông tin ở không gian mạng hiện nay có lúc vẫn bị nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đánh giá là những vấn đề nhạy cảm. Việc chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực và ngoài khu vực đều có những hạn chế nhất định. Thậm chí nhiều lúc chưa có sự tin tưởng một cách tuyệt đối." Trong việc phòng chống tội phạm mạng, Việt Nam từ nhiều năm qua vẫn có sự hỗ trợ của Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ). Tháng 5/2026, Cảnh sát Liên bang Úc đã phối hợp với bộ Công An Việt Nam và cảnh sát các nước Đông Nam Á khác tổ chức một hội thảo ở Đà Nẵng về nâng cao hợp tác giữa các bên trong lĩnh vực. Là một trong những người tham gia hội thảo, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải cho biết: "Hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ) có một hệ thống sĩ quan liên lạc cảnh sát quốc tế phủ rộng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Văn phòng Việt Nam đã mở hơn 20 năm nay. Có thể nói, theo đánh giá của cá nhân tôi, văn phòng đại diện sĩ quan liên lạc cảnh sát Úc ở Việt Nam đã đóng một vai trò rất lớn là một cầu nối quan trọng để kết nối lực lượng thực thi pháp luật của hai nước trong việc cập nhật, trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, xử lý, dẫn độ cũng như giải quyết các vụ án mang tính chất xuyên quốc gia. Sự kiện ở Đà Nẵng có ba nội dung trọng tâm mà hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc nâng cao hiệu quả hợp tác với đối tác Việt Nam. Thứ nhất là chia sẻ thông tin tình báo và dữ liệu tội phạm mạng, một trong những điểm rất quan trọng. Hội thảo vừa rồi cũng đánh giá cao sự chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực ASEAN và lực lượng cảnh sát Úc. Thứ hai là hỗ trợ đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật ở Việt Nam, thông qua nhiều kênh khác nhau, ví dụ như kênh về chương trình đào tạo quản lý lực lượng thực thi pháp luật khu vực châu Á - Thái Bình Dương, được tổ chức thường niên mỗi năm khoảng hai đến ba khóa, tùy vào các chủ đề liên quan đến tội phạm xuyên quốc gia. Những năm gần đây ưu tiên đặc biệt là các vụ lừa đảo scam qua mạng ( scam ) rất là nhiều. Qua kênh đào tạo này thì hiện đã có hơn 1000 cán bộ thực thi pháp luật, trong đó có nhiều cán bộ của Việt Nam đã được đào tạo cùng với các nước ASEAN và khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Chính điểm thứ hai này đã tạo ra được một lực lượng rất là thiện chiến trong phòng chống tội phạm mạng và các vấn đề liên quan đến an ninh mạng cho phía Việt Nam mà phía Úc đã hỗ trợ. Hợp tác thứ ba nữa mà tại diễn đàn này tôi cũng đã tập trung trao đổi, đó là chia sẻ những kinh nghiệm, phương thức, chiến thuật, các hoạt động phối hợp điều tra các vụ án xuyên biên giới, đặc biệt liên quan đến các vụ lừa đảo trực tuyến, rửa tiền số và bóc lột lao động trong các đường dây lừa đảo. Có thể nói trong bối cảnh Đông Nam Á đang nổi lên như một điểm nóng của các trung tâm lừa đảo xuyên quốc gia, hợp tác Việt Nam và Cảnh sát Liên bang Úc đóng một cái vai trò quan trọng không chỉ ở khía cạnh thực thi pháp luật, mà còn trong việc chia sẻ các kinh nghiệm thực chiến và xây dựng các chiến lược phòng ngừa mang tính nhất dài hạn."
“Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao. Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển” . Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ? Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động , bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn. Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người , tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia. Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ . Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai. Đọc thêm Dự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị , tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế. Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế. Cuối cùng là nhu cầu nội địa . Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ? Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ. Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc. Đọc thêm Việt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường. Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu. RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ? Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai. Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam. Đọc thêm Chuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển dịch. Ngoài ra, các dự án năng lượng như nhà máy điện hạt nhân, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ bảo đảm nguồn cung điện ổn định và sẽ giúp nền kinh tế phát triển theo hướng cao cấp hơn. Tôi cho rằng tất cả những lý do này sẽ giúp củng cố tăng trưởng kinh tế. Và cần nhắc lại, nếu được triển khai một cách thông minh, bền vững và quản lý hiệu quả, những công trình cơ sở hạ tầng này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm và đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế quan trọng tại châu Á. RFI : Liệu sự tăng trưởng này (một phần nhờ các dự án lớn) có bền vững không ? Éric Mottet : Các dự án cơ sở hạ tầng có thể bền vững, nhưng không phải tự nhiên mà có mà phụ thuộc vào cách chúng được thiết kế, tài trợ và tích hợp vào nền kinh tế. Để đạt hiệu quả, cần xem xét nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, hạ tầng phải thực sự thiết thực. Thực tế cho thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, kể cả Việt Nam, vẫn tồn tại các công trình được đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, tính hữu ích và đáp ứng nhu cầu kinh tế thực sự là tiêu chí hàng đầu. Khi được quản lý tốt, cơ sở hạ tầng sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn. Thứ hai, các dự án hạ tầng cần đóng vai trò thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế có năng suất cao hơn, thay vì chỉ tạo ra tác động ngắn hạn. Điều này đòi hỏi hạ tầng phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, từ 10 đến 30 năm, thậm chí là 40 năm. Một công trình chỉ mang lại hiệu ứng tạm thời trong giai đoạn xây dựng sẽ không có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, tính bền vững cần được đặt trong tầm nhìn nhiều thập niên. Đọc thêm Việt Nam : Giấc mơ đường sắt cao tốc và bài toán 70 tỉ USD Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng cũng cần được quản lý tài chính hiệu quả. Nợ công phải được kiểm soát ở mức an toàn và các dự án cần tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trong vòng 10-20 năm. Do đó, sự tăng trưởng được tài trợ này không nên phụ thuộc quá nhiều vào vay nợ mà cần hướng đến khả năng tự tạo nguồn thu và sinh lời trong thời gian hợp lý. Ngoài ra, để các công trình hạ tầng bền vững, chúng cần được triển khai theo hướng thân thiện với môi trường, tránh gây tác động tiêu cực lâu dài. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý minh bạch, quy hoạch hiệu quả, có tính đến những tác động xã hội và môi trường mà mọi dự án hạ tầng lớn có thể gây ra khi được triển khai tại một khu vực nhất định. RFI : Chúng ta thấy một yếu tố mới xuất hiện : cuộc khủng hoảng năng lượng và dầu mỏ do chiến tranh ở Trung Đông. Yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến các dự án lớn của Việt Nam và, quan trọng hơn, đến sự tăng trưởng của đất nước ? Éric Mottet : Căng thẳng và khủng hoảng tại Trung Đông tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với Việt Nam và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng lớn và triển vọng tăng trưởng. Tôi cho rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn được thể hiện rõ qua việc giá nguyên vật liệu tăng mạnh, đặc biệt là dầu khí. Điều này làm leo thang chi phí xây dựng, bởi vì thép, xi măng và nhựa đường đều tăng giá đáng kể ; riêng nhựa đường tại nhiều nước đã tăng từ 30-50%. Chi phí năng lượng tăng cao làm đội chi phí tổng thể của các dự án, đồng thời gia tăng nguy cơ chậm tiến độ hoặc vượt ngân sách. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng sinh lời của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Đặc biệt, các dự án có vốn đầu tư lớn như đường sắt cao tốc, sân bay hay nhà máy điện hạt nhân có thể trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do khủng hoảng Trung Đông, nhất là nếu còn kéo dài trong nhiều tháng. Đọc thêm Chiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam Khủng hoảng tại Trung Đông là trở ngại đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá năng lượng tăng gây ra lạm phát nhập khẩu, làm suy giảm sức mua của hộ gia đình và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí năng lượng tăng, doanh nghiệp phải gánh chi phí cao hơn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Vì vậy, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% mỗi năm của Việt Nam có nguy cơ trở nên khó khăn hơn trong giai đoạn 2026-2027, thậm chí là 2028 nếu khủng hoảng Trung Đông còn kéo dài. Tuy nhiên, không phải mọi tác động đều tiêu cực. Trong trường hợp của Việt Nam, khủng hoảng còn có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta có thể thấy rõ rằng Việt Nam hiện rất nhạy cảm với những cú sốc năng lượng từ bên ngoài. Điều này có thể thúc đẩy chính phủ đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, bao gồm phát triển điện hạt nhân và mở rộng năng lượng tái tạo. Về dài hạn, những bước đi này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào dầu khí, đặc biệt là nhập khẩu dầu mỏ. Khủng hoảng Trung Đông không hoàn toàn tiêu cực, tôi cho rằng Việt Nam hiểu rõ điều này. Tuy vậy, biến động năng lượng vẫn có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% được đề ra trong giai đoạn 2026-2030. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Éric Mottet, Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. (1) Dan Martin, Văn phòng tư vấn Dezan Shira & Associates, được AFP trích dẫn ngày 08/04/2026
Trong khuôn khổ chính sách "Hướng Đông" của Ấn Độ và nhằm đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á, thủ tướng Narendra Modi đã thảo luận với tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm Ấn Độ đầu tháng 5 vừa qua về việc tăng cường hợp tác quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam, bao gồm cả việc bán tên lửa hành trình siêu âm BrahMos cho Hà Nội. Thương vụ bán tên lửa BrahMos cho Việt Nam cũng đã là một trong những chủ đề chính trong chuyến thăm Việt Nam của bộ trưởng Quốc Phòng Rajnath Singh trong hai ngày 18 và 19/05. Theo báo chí Ấn Độ, hai nước "đang tiến gần" đến thỏa thuận trị giá 700 triệu đôla để cung cấp tên lửa BrahMos cho Việt Nam. Các cuộc đàm phán được mô tả là đang ở giai đoạn "nâng cao" và thỏa thuận có thể sẽ được ký kết trong những tháng tới. Từ nhiều năm qua, Việt Nam đã đàm phán mua tên lửa siêu thanh BrahMos của Ấn Độ, loại tên lửa mà ít nhất 15 quốc gia khác, nhất là các nước Đông Nam Á, cũng đang quan tâm. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trong đó có vấn đề chuyển giao công nghệ, đàm phán giữa Hà Nội và New Delhi đã kéo dài. Tên lửa BrahMos ngày càng hấp dẫn với các nước Đông Nam Á là nhờ có hiệu năng vượt trội và khả năng chiến đấu đã được chứng minh. Lần ra mắt trên chiến trường của tên lửa siêu thanh này là trong “Chiến dịch Sindoor” vào tháng 5/2025, chiến dịch quân sự của Ấn Độ chống Pakistan sau một cuộc tấn công của phiến quân ở vùng Kashmir do Ấn Độ quản lý, khiến ít nhất 26 thường dân thiệt mạng. Các cuộc tấn công cho thấy khả năng của BrahMos xuyên thủng hệ thống phòng không chủ động . Trên trang mạng của nhật báo Hồng Kông South China Morning Post ngày 10/05/2026, Gaurav Kumar, một nhà nghiên cứu tại một viện nghiên cứu quốc phòng của Ấn Độ, cho biết tên lửa BrahMos bay với tốc độ hơn Mach 3. Theo ông Kumar, vận tốc và độ cao tương đối thấp của BrahMos khiến “hệ thống phòng không của đối phương có rất ít thời gian phản ứng. Các hệ thống có thể theo dõi tên lửa này, nhưng việc đánh chặn vẫn cực kỳ khó khăn, đặc biệt là trong các cuộc tấn công hàng loạt.” Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 14/05/2026, nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, cho biết thêm: “BrahMos là loại tên lửa đa dụng, tức là không chỉ gắn lên xe phóng ở trên bờ, ta có thể gắn tên lửa lên máy bay chiến đấu. Triển khai máy bay đó ra ngoài bờ biển cũng tạo ra một sức ép rất lớn với đối thủ tiềm tàng, hoặc là đặt trên bờ và di chuyển tên lửa đó đến những vị trí mà mình muốn, tạo ra cái mà Việt Nam gọi là "khả năng răn đe" đối với một đối thủ tiềm tàng nào đó trong trường hợp xung đột xảy ra. Thứ hai là tính hiện đại. Tên lửa này có tốc độ rất cao, Mach 3, tức gấp ba lần vận tốc âm thanh. Công nghệ siêu thanh này Việt Nam chưa có. Thứ ba, quan trọng nhất, là giá thành. Các loại vũ khí tương tự của Nhật hay của Châu Âu có giá tương đối cao, trong khi BrahMos có giá tương đối thấp. Đối với các nước Đông Nam Á có nguồn lực quốc phòng không đủ mạnh, không đủ nhiều, lựa chọn này là một trong những lựa chọn “affordable”, tức là có tính kinh tế nhất, cho việc phát triển và hiện đại hóa năng lực phòng thủ không chỉ của Việt Nam, mà còn của các nước như Philippines, Indonesia, Malaysia, những nước đang có tranh chấp trên biển. Thứ tư, đây là một sản phẩm quốc phòng của Ấn Độ dựa trên công nghệ của Nga. Nếu nói về một trong những loại công nghệ phòng thủ bờ biển vừa hiệu quả mà vừa rẻ tiền, đầu tiên người ta nói tới Nga. Nhưng chiến tranh Ukraina từ 2022 tới nay khiến cho việc tiếp cận công nghệ vũ khí, khí tài của Nga trên thị trường thế giới rất khó. Sản phẩm đó của Ấn Độ ngẫu nhiên trở thành lựa chọn hấp dẫn, vì đó là công nghệ Nga nhưng được làm ở Ấn Độ và được đăng ký bản quyền ở Ấn Độ, cho nên sẽ không bị những rào cản về cấm vận, hay bị các nước phương Tây để ý, giúp cho các quốc gia Đông Nam Á tiếp cận một loại công nghệ phòng thủ tốt nhưng rẻ và không vướng vào những khúc mắc liên quan tới cuộc chiến Nga - Ukraina. Xét về mặt công nghệ tên lửa hiện nay hầu như toàn bộ các quốc gia Đông Nam Á, chứ không riêng Việt Nam, đều chưa có một loại vũ khí nào có thể đối phó hiệu quả trong một cuộc chiến với Trung Quốc, đặc biệt trong bối cảnh xung đột trên các đảo đang tranh chấp ở Biển Đông, một kịch bản giả định một cuộc xâm lược từ hướng biển. Kịch bản này là một trong những kịch bản mà Việt Nam liên tục cập nhật. Về các loại vũ khí tàu chiến, ngoài Mỹ, một số nước Châu Âu và Nhật Bản, BrahMos là một lựa chọn tương đối là phù hợp, tuy không phải là phù hợp nhất, đối với các nước Đông Nam Á trong việc cải thiện năng lực phòng thủ bờ biển.” Nếu thỏa thuận được ký kết, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia thứ ba sở hữu hệ thống tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos, sau hợp đồng trị giá 375 triệu đô la của Philippines vào năm 2022 và thỏa thuận của Indonesia vào tháng 3/2026 để hoàn tất hợp đồng trị giá ít nhất 340 triệu đô la. Nhưng theo Nguyễn Thế Phương, có một số lý do khiến đàm phán giữa Việt Nam và Ấn Độ về mua tên lửa BrahMos kéo dài: “Thật ra hợp đồng BrahMos là hợp đồng mà Việt Nam và Ấn Độ đã đàm phán rất lâu, từ cách đây cũng khoảng 10 năm. Cho tới nay thực tế thì tỷ lệ phần trăm mà Việt Nam có thể mua BrahMos từ Ấn Độ vẫn là 50/50, chứ chưa phải là điều gì chắc chắn cả. Hai bên vẫn đang đàm phán với nhau. Có nhiều lý do khiến cho tên lửa này hấp dẫn, nhưng chưa đủ để cho đàm phán đó tiến nhanh.Thứ nhất là Việt Nam hiện đang trong quá trình xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, tự chủ và cho tới nay đã đạt được một số thành tựu nhất định, đặc biệt là đã tự chế tạo được loại tên lửa tạm gọi là “phòng thủ bờ biển”. Cách đây hai năm, Việt Nam cũng đã cho ra mắt một số loại tên lửa nội địa. Đây cũng là một phần khiến cho sự mặn mà của Việt Nam đối với BrahMos chưa phải là cấp thiết lắm. Thứ hai là tỷ lệ nội địa hóa của Ấn Độ đối với BrahMos chưa phải là cao. BrahMos là một dự án liên doanh hợp tác chuyển giao công nghệ giữa Ấn Độ và Nga. Ở thời điểm hiện tại, theo một số nguồn tin, tỷ lệ mà Ấn Độ nội địa hóa trong tên lửa BrahMos là vào khoảng 60 tới 70% thôi, còn 30 tới 40% còn lại thì vẫn dựa vào công nghệ của Nga. Việt Nam vẫn lo ngại là trong bối cảnh chiến tranh Nga - Ukraina hiện nay, liệu thành phẩm hoàn chỉnh BrahMos có đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ, chiến thuật hay không? Hiện giờ Nga đang bị cấm vận và chính sách quốc phòng của Nga đang hướng nội, tập trung cho việc xây dựng nguồn lực cho cuộc chiến với Ukraina nhiều hơn là hợp tác với nước ngoài. Việt Nam lo ngại nếu nhập khẩu thì liệu hệ thống tên lửa đó có vận hành đúng như những gì mà Việt Nam mong muốn không? Ngoài ra còn có những điểm liên quan đến chuyển giao công nghệ nữa. Đây là một trong những điểm mà hai bên chắc đang phải tập trung đàm phán. Đối với Việt Nam hiện nay, một trong những trụ cột của chính sách phát triển quốc phòng và đặc biệt là chính sách phát triển các loại vũ khí là mong muốn được đối tác nước ngoài chuyển giao công nghệ. Việc nhập khẩu tên lửa BrahMos có một hàm ý quan trọng là liệu Ấn Độ có cho phép Việt Nam tiếp cận công nghệ động cơ đó hay không? Đây là một điểm khá là khúc mắc, bởi vì thường thì đứng về góc độ của người bán vũ khí, họ sẽ lưỡng lự và cũng rất khó khăn trong quyết định có nên chuyển giao công nghệ cho đối tác nước ngoài không. Việt Nam hiện đang tổ chức lại lực lượng tên lửa và tăng cường hệ thống phòng không, cho nên cũng quan tâm đến các loại tên lửa khác của Ấn Độ, theo lời Nguyễn Thế Phương: Ngoài BrahMos, có thông tin là Việt Nam cũng quan tâm đến các loại tên lửa phòng không của Ấn Độ và một số loại công nghệ tên lửa đạn đạo trong bối cảnh Việt Nam đang tái cấu trúc lại tên lửa, pháo binh thành Bộ tư lệnh Pháo binh - Tên lửa. Trong việc hiện đại hóa năng lực pháo binh cộng với các loại tên lửa đất đối đất tầm ngắn và tầm trung trong tương lai, Ấn Độ là nước có năng lực phát triển tên lửa đối đất thuộc hàng top ở châu Á. Thứ hai là về phòng không, Việt Nam cách đây khoảng một năm đã đưa ra một khái niệm “Vòm phòng không bền vững”, tương tự như "Vòm Sắt" của Israel . Nói đến vòm phòng không là nói đến các loại vũ khí liên quan tới phòng không, nhiều tầng nhiều lớp. Đây là mảng hợp tác cũng tương đối tiềm năng giữa Ấn Độ và Việt Nam. Ấn Độ đã phát triển một số loại tên lửa phòng không, mà theo quảng cáo, về mặt lý thuyết tương đối là có năng lực. Nhưng các loại tên lửa phòng không của Ấn Độ là có công nghệ của Israel. Trong bối cảnh hiện nay, quan hệ hợp tác Việt Nam và Israel đang chậm lại, vì Israel vướng vào cuộc chiến Gaza, cuộc chiến với Iran, nguồn lực của Israel phải tập trung vào các cuộc chiến đó, khiến cho việc Việt Nam tiếp cận công nghệ của Israel cũng có vấn đề." Theo Nguyễn Thế Phương, ngoài việc mua sắm vũ khí, Việt Nam còn cần đến kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc vận hành các loại vũ khí có công nghệ của Nga. Sau chuyến thăm của chủ tịch nước Tô Lâm, Ấn Độ cho biết sẽ tiếp tục giúp Việt Nam huấn luyện thủy thủ tàu ngầm và tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo phi công cũng như kỹ sư vận hành các loại máy bay chiến đấu đang trong biên chế của Việt Nam là Su 27 và Su 30.
Khoảng 88% tổng lượng dầu thô nhập khẩu của Việt Nam được nhập từ vùng Vịnh Ba Tư, chỉ đứng sau Philippines (95%) và đứng trước các nước Malaysia (69%), Thái Lan (59%) và Singapore (52%), theo Ngân hàng Đầu tư Maybank (1). Kuwait là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 80% tổng lượng nhập khẩu. Khoảng 49% khối lượng khí hóa lỏng LNG nhập khẩu của Việt Nam cũng có xuất xứ từ Vùng Vịnh (2). Sự phụ thuộc nghiêm trọng vào gần như một nước, một khu vực vẫn được coi là “chảo lửa” Trung Đông, được phản ánh rõ trong cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz. Ngoài ra, Việt Nam có kho dự trữ dầu chiến lược nhỏ nhất Đông Nam Á, trong khi việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Đọc thêm Việt Nam đối mặt với tình trạng thiếu xăng dầu vì nguồn cung ứng bị gián đoạn Theo một tài liệu của bộ Công Thương, được Reuters trích dẫn ngày 18/03/2026, Việt Nam cũng phải đối mặt với việc các mỏ dầu ngoài khơi đang dần cạn kiệt, khiến sản lượng dầu thô nội địa dự kiến sẽ bị giảm trong thập niên này, chỉ còn khoảng 5,8 đến 8 triệu tấn/năm, thấp hơn mức bình quân 8,6 triệu tấn của 5 năm gần nhất. Do đó, Việt Nam có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nhập khẩu dầu lửa do hệ thống lọc dầu cần lượng nguyên liệu lớn hơn rất nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn ở trong nước. UNCLOS nói gì về khai thác dầu khí trong vùng tranh chấp chủ quyền ? Về lâu dài, Việt Nam dự trù tăng cường hoạt động thăm dò, trong đó có việc đưa ra các ưu đãi cho các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào các mỏ ngoài khơi. Mục tiêu là nâng cao trữ lượng có thể khai thác thêm 13 triệu đến 17 triệu tấn dầu thô mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Khủng hoảng năng lượng ở Trung Đông đã thúc đẩy Philippines nêu khả năng thăm dò dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền. Liệu Việt Nam có làm như vậy với Trung Quốc ? Thực ra, ngay năm 2005, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã có thỏa thuận ba bên về “Khảo sát Địa chấn biển chung” (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon, nhận định : “Cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng” . Đọc thêm Việt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông? Ý định này vẫn chỉ nằm trên giấy tờ vì những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông, cho dù bị vô hiệu hóa trong phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) La Haye. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời, theo giải thích của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Theo luật quốc tế, khi nhiều quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền đối với một vùng biển (vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa chồng lấn), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 quy định nghĩa vụ hợp tác. Thông qua Điều 74 và 83, Công ước quy định các quốc gia phải đàm phán thiện chí để đạt được sự phân định công bằng và không được làm tổn hại hoặc cản trở một thỏa thuận trong tương lai. Cụ thể, điều này có nghĩa là việc khai thác dầu khí đơn phương tiềm ẩn rủi ro pháp lý tại khu vực tranh chấp giữa nhiều quốc gia theo luật quốc tế. Công ước cũng khuyến khích các giải pháp tạm thời. Công ước quy định các quốc gia có thể ký kết các thỏa thuận tạm thời mang tính thực tiễn trong khi chờ phân định cuối cùng. Chính trong khuôn khổ pháp lý này mà các khu vực phát triển chung về dầu khí đang được phát triển. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Công ước không đề cập đến phương pháp cần tuân theo. Do đó, Công ước không định nghĩa một cơ chế tiêu chuẩn cho việc quản lý chung dầu khí, cũng không thiết lập các quy tắc chia sẻ doanh thu hoặc quản trị, cũng không tạo ra một thể chế cụ thể cho các khu vực tranh chấp này. Do đó, các phương thức cụ thể (chia sẻ, thuế, nhà điều hành…) hoàn toàn được đàm phán song phương hoặc trong khu vực giữa các quốc gia” . Đọc thêm Việt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông như nào ? Tiền lệ về gác tranh chấp chủ quyền để cùng thăm dò khai thác Trường hợp tranh chấp chủ quyền trên biển nhưng vẫn hợp tác khai thác dầu khí không phải là hiếm trên thế giới, theo nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Hai mô hình khu vực phát triển chung có thể được nêu ra làm ví dụ để các bên ở Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam, có thể tham khảo. Thứ nhất là Khu vực Phát triển Chung Nigeria-São Tomé và Príncipe (Nigeria-São Tomé and Príncipe Joint Development Zone) , liên quan đến hoạt động khai thác dầu khí trong vùng biển mà cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền ở Vịnh Guinea. Thứ hai là Khu vực Phát triển Chung Malaysia-Thái Lan ( Malaysia - Thailand Joint Development Area , MTJDA) , liên quan đến việc khai thác khí đốt tự nhiên trong khu vực tranh chấp giữa Malaysia và Thái Lan, nằm ở Vịnh Thái Lan . Có thể thấy rõ rằng bất chấp những khó khăn, sự hợp tác giữa các bên tuyên bố có quyền về dầu khí ở Biển Đông là khả thi và có thể được thực hiện phù hợp với cả luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia” . Bãi Tư Chính : Việt Nam khẳng định chủ quyền nhưng không khai thác được Tài nguyên dầu khí của Việt Nam tập trung quanh bãi Tư Chính (Vanguard Bank), chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng của đất nước. Hà Nội khẳng định khu vực nhà giàn DK1, trong đó có bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam và là thềm lục địa phía nam Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982. Vùng biển này không tranh chấp với nước nào, và lại càng không tranh chấp với Trung Quốc. Ngược lại, Bắc Kinh và Đài Bắc cho rằng bãi Tư Chính thuộc quần đảo Trường Sa, đang có tranh chấp chủ quyền. Trung Quốc thường xuyên tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. Tháng 07/2017, tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha phải ngừng hoạt động thăm dò khí đốt tại mỏ Cá Rồng Đỏ ở khu vực bãi Tư Chính. Trong suốt ba tuần tháng 07/2019, Trung Quốc đưa tàu thăm dò Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8), được nhiều tàu hải cảnh và dân quân biển hộ tống, xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính. Hoạt động gây rối này tái diễn trong những năm 2023, 2024. Đọc thêm Bãi Tư Chính : Việt Nam nên để ngỏ khả năng kiện Trung Quốc Song song với việc “quấy rối” hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam và tiếp tục đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, từ năm 2017, Trung Quốc cũng “ tích cực” đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Việt Nam và Philippines. Động cơ đằng sau đề xuất này là gì ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon giải thích : “Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược. Về kinh tế, việc khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông cho phép Trung Quốc đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước ngày càng tăng. Hơn nữa, bất kỳ động thái hội nhập khu vực nào cũng nằm trong khuôn khổ rộng lớn hơn của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), do Bắc Kinh khởi xướng và có hiệu lực từ tháng 01/2022. Về mặt địa-chiến lược, các sáng kiến chung với các quốc gia giáp Biển Đông cho phép Trung Quốc tăng cường quan hệ hợp tác với những nước này. Về lâu dài, sự gần gũi đó có thể góp phần làm suy yếu mối quan hệ giữa các quốc gia này với Hoa Kỳ và từ đó củng cố vị thế của Bắc Kinh trong bối cảnh cạnh tranh Trung-Mỹ” . Những bị động do phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung năng lượng Trung Đông có khiến Hà Nội thay đổi quan điểm về thỏa thuận khai thác chung và chia sẻ công bằng nguồn năng lượng ở Biển Đông không ? Liệu có khả năng Việt Nam và Trung Quốc hợp tác trong tương lai gần hay không ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon nhận định : “Có khả năng hợp tác cho dù hai nước, Trung Quốc và Việt Nam, không từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ bởi vì Việt Nam có những lập luận bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, nhưng họ có thể gác lại khía cạnh chủ quyền này hoặc đồng ý gác lại để tập trung vào các cơ chế thực tế để quản lý tài nguyên mà trong trường hợp này, là quản lý tài nguyên dầu mỏ. Đúng là nhiều nguồn tài nguyên đang được khai thác, và một số đang gần cạn kiệt. Nhưng không phải tất cả các nguồn tài nguyên ở Biển Đông đều đã được xác định. Trong khuôn khổ quản lý thực tiễn chung các nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, có thể sẽ có các đợt thăm dò chung nhằm xác định các mỏ dầu khí hoặc khí đốt tự nhiên mới, sau đó sẽ được khai thác và chia sẻ chung. Đọc thêm Việt Nam, Malaysia, Philippines: Gác tranh chấp, chống Trung Quốc ở Biển Đông? Thực tế cho thấy Việt Nam phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ Trung Đông. Nhìn vào tình hình bất ổn hiện nay ở Trung Đông, đặc biệt là những khó khăn do các “điểm kiểm soát” - tức là các eo biển chiến lược - gây ra thì hiện giờ đang có rất nhiều tranh luận liên quan đến eo biển Hormuz, đang bị cả Iran và Mỹ phong tỏa. Ngoài ra còn phải nhắc đến eo biển Malacca, một eo biển nhạy cảm, nơi trung chuyển một phần rất lớn dầu mỏ dành cho các nước ở Đông Nam Á và và Đông Bắc Á. Vì vậy, sự phụ thuộc vào các đặc điểm địa lý có thể trở nên rất nhạy cảm từ góc độ địa-chính trị, đang thúc đẩy Việt Nam tìm cách xác định các nguồn tài nguyên dầu mỏ có thể khai thác được mà không cần đi qua những nơi tiềm ẩn nhiều vấn đề từ góc độ địa-chính trị như vậy”. Để có thể đi đến một quyết định, chắc chắn sẽ gây tranh cãi, nhưng mang tính thiết yếu cho nguồn cung năng lượng Việt Nam Nam, nhà nghiên cứu Laurent Gédéon cho răng, “ các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mỗi bên”. (1) ASEAN countries exposed by Middle East oil dependence (2) The Middle East Crisis and Southeast Asia’s Energy Vulnerability
Ngày 11/04/2026, nhân chuyến thăm chính thức Tòa Thánh, chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn đã chuyển bức thư của tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Tô Lâm mời giáo hoàng Lêô XIV đến thăm chính thức Việt Nam “trong thời gian tới” . Chưa biết chuyến thăm đầu tiên của một giáo hoàng tại Việt Nam sẽ diễn ra vào lúc nào, nhưng lời mời của ông Tô Lâm đánh dấu một bước mới trong quan hệ giữa Hà Nội và Vatican, cho thấy hai bên tiến gần hơn bao giờ hết đến bình thường hóa bang giao, bị gián đoạn từ cách đây hơn 50 năm. RFI Tiếng Việt phỏng vấn giảng viên lịch sử Đông Nam Á Trần Thị Liên Claire, chuyên gia về lịch sử Công Giáo Việt Nam, Đại học Paris Cité. RFI: Xin chào bà Trần Thị Liên Claire. Trước hết bà đánh giá như thế nào về lời của ông Tô Lâm gởi cho giáo hoàng Lêô XIV? Tác động của chuyến thăm này đối với Giáo hội Công giáo Việt Nam sẽ như thế nào? Trần Thị Liên Claire: “Lời mời của chủ tịch nước kiêm tổng bí thư đảng Tô Lâm thực sự rất quan trọng, nhưng đây không phải là lần đầu tiên, vì chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã từng mời giáo hoàng Phanxicô vào tháng 12/2023, nhưng chuyến thăm đã không thể được thực hiện. Lời mời này thực sự là một phần của mối quan hệ ngoại giao đang phát triển giữa Việt Nam và Vatican. Đã có rất nhiều chuyến thăm chính thức của các đại diện cấp cao nhất của Việt Nam tại Roma, gồm cả tổng bí thư, chủ tịch nước hay thủ tướng. Năm ngoái, phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đã đến thăm Vatican vào tháng 6. Vì vậy, đây thực sự là một điều đã được duy trì trong nhiều năm. Đối với người Việt Nam, chuyến thăm này đã được mong đợi từ rất lâu. Mọi người đã nghĩ rằng khi đi thăm Indonesia và Singapore vào năm ngoái, giáo hoàng Phanxicô sẽ đến Việt Nam, nhưng chuyến đi đó đã không diễn do tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời và quá trình kế nhiệm phải mất một thời gian. Các Giáo hoàng đã đến thăm tất cả các nước châu Á khác mà chưa thăm Việt Nam, trong khi Việt Nam có một trong những cộng đồng Công Giáo lớn nhất tính về tỷ lệ phần trăm. Vì vậy, chuyến thăm của giáo hoàng thực sự là một tín hiệu vô cùng quan trọng đối với Việt Nam, và nhất là là đối với người Công Giáo Việt Nam. Thậm chí tôi có thể nói, chuyến thăm này mang tính biểu tượng không chỉ đối với người Công Giáo mà còn đối với toàn thể người dân Việt Nam, bởi vì trong một thời gian rất dài, các nhà cầm quyền, dù là vào thời phong kiến hay dưới chế độ Cộng sản, thường nhìn thiểu số Công giáo Việt Nam với sự nghi ngờ, và ngược lại, các nhà cầm quyền lại bị coi là chống Công Giáo. Vì vậy, chuyến thăm này sẽ thực sự chấm dứt những nghi ngờ từ cả hai phía và mở ra một chương mới trong lịch sử Việt Nam và lịch sử Giáo hội tại Việt Nam. Chắc chắn là như vậy.” RFI: Theo bà thì lời mời giáo hoàng Lêô XIV sang thăm Việt Nam có sẽ thúc đẩy tiến trình bình thường hóa giữa Hà Nội với Vatican? Trần Thị Liên Claire: “Cả hai phía Vatican và Hà Nội đều đã nỗ lực làm việc trong một thời gian dài cho quá trình bình thường hóa quan hệ, vốn đã bị cắt đứt từ năm 1975. Các nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam - Tòa Thánh đã họp từ năm 2009. Họ họp hàng năm, khi thì ở Roma, khi thì ở Hà Nội. Nhóm này đã hoàn tất cuộc họp thứ 13 và đang giải quyết nhiều vấn đề. Trước hết là vấn đề bổ nhiệm các giám mục, rồi đến vấn đề nhà đất của Giáo hội. Có nhiều chủ đề quan trọng khác như giáo dục và thành lập trường đại học Công giáo, nhưng một trong những chủ đề chính của nhóm công tác hỗn hợp là tái lập quan hệ ngoại giao. Lời mời giáo hoàng thăm Việt Nam là một dấu hiệu của việc hai bên sắp tái lập bang giao, dù nó diễn ra trước hay sau chuyến thăm. Dầu sao thì chuyến thăm chắc chắn sẽ diễn ra vào cuối năm 2026 hoặc năm 2027, vì lời mời này trùng với Ngày Giới trẻ Thế giới, dự kiến diễn ra vào tháng 8/ 2027 tại Seoul. Hơn nữa, kể từ năm 2024, đã có một đại diện thường trú của giáo hoàng ở Việt Nam, tuy chưa phải là sứ thần, đó là Đức ông Marek Zalewski, trước đây là đại diện không thường trú của giáo hoàng tại Việt Nam, trú tại Singapore. Đây thực sự sẽ là một sự kiện lớn: Việt Nam sẽ là quốc gia Cộng sản duy nhất ở châu Á có sứ thần Tòa Thánh và thiết lập quan hệ chính thức với Vatican. Dường như Hồng y Parolin, Quốc vụ khanh của Vatican, giống như là thủ tướng của Tòa Thánh, hiểu rất rõ về Việt Nam. Ngài đã đến Việt Nam từ năm 2009 để quản lý quan hệ giữa hai bên và dường như sẽ đến thăm Việt Nam trong năm 2026. Ngài thực sự là người kiến tạo nên mối quan hệ này. Hồng y Parolin thường nói Việt Nam và tình trạng quan hệ giữa hai bên thực sự là một kiểu mẫu, thậm chí là kiểu mẫu cho quan hệ ngoại giao tương lai với Trung Quốc. Việt Nam thực sự là một điển hình về khả năng hiểu biết nhau và khả năng đối thoại từ cả hai phía, cho dù hai bên không phải lúc nào cũng đồng ý về một số điểm. Thực sự đã có một khả năng đối thoại được phát triển kể từ năm 2009, và đây là kết quả của một thời gian dài gặp gỡ và đàm phán, là kết quả của các ê kíp ngoại giao Việt Nam - Tòa Thánh và đặc biệt là của Hồng y Parolin.” RFI: Thưa bà, trong quan hệ giữa Việt Nam với Vatican hiện nay, còn những vấn đề nào cần được giải quyết để khai thông mọi bế tắc còn cản trở việc bình thường hóa bang giao? Trần Thị Liên Claire: “Đúng là quan hệ giữa hai bên không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Năm 2025 là giai đoạn rất bất ổn, với việc chủ tịch nước Võ Văn Thưởng mất chức và trước đó là cái chết của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, dẫn đến việc cựu bộ trưởng công an Tô Lâm lên nắm quyền. Tất nhiên mọi chuyện không hoàn toàn dễ dàng trong quan hệ giữa Việt Nam với Tòa Thánh, cả hai phía đều giải quyết vấn đề không phải một cách toàn diện, mà là một cách thực dụng và theo từng trường hợp cụ thể. Vấn đề nhà đất thực sự được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể và tất nhiên là không phải ở mọi nơi. Vấn đề bổ nhiệm các giám mục thì theo một quy trình nay đã trôi chảy. Cụ thể, Vatican đề xuất tên của ba vị và sau đó chính phủ sẽ chọn một trong ba vị đó. Vì vậy, về điểm này, họ đã đạt được tiến bộ đáng kể. Vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng chính sự hiện diện thường trực của một đại diện Tòa Thánh đã góp phần rất lớn vào việc cải thiện đối thoại. Đối với chính phủ Việt Nam, mong muốn của họ chính là thể hiện mình là một cường quốc tầm trung đáng nể, có khả năng đàm phán với Vatican và, theo một cách nào đó, đảm bảo rằng người Công Giáo luôn trung thành với chính quyền, đặc biệt là thông qua các mối quan hệ chính thức này. Vatican thì tìm cách duy trì mối quan hệ tốt để cộng đồng thiểu số Công Giáo, chiếm 7% dân số, có những điều kiện tốt nhất có thể cho việc thực hành tôn giáo trong một quốc gia Cộng sản.” RFI: Theo bà, Giáo hội Việt Nam có tầm quan trọng như thế nào đối với Tòa Thánh, nhất là nếu hai bên tiến tới tái lập quan hệ ngoại giao? Trần Thị Liên Claire: Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người Công giáo tuy không bằng các nước Mỹ Latinh hay một số nước châu Phi, nhưng đứng hàng thứ tư châu Á sau Đông Timor (98%), Philippines (80%) và Hàn Quốc (11,3%), cao hơn đáng kể so với Trung Quốc (1%). Hơn nữa, Giáo hội ở Việt Nam cũng là một trong những Giáo hội năng động nhất, với số giáo sĩ thuộc hàng đông đảo nhất châu Á. Vì vậy, Việt Nam thực sự rất quan trọng đối với Vatican, và như tôi đã nói, đó cũng là một dạng thử nghiệm cho quan hệ giữa Tòa Thánh với Trung Quốc, vốn phức tạp hơn nhiều. Vatican rất coi trọng kinh nghiệm về quan hệ với Việt Nam và về sự thành công, nếu họ thiết lập được quan hệ ngoại giao. Tất nhiên, mọi việc vẫn chưa ngã ngũ, chúng ta vẫn phải xem điều gì sẽ xảy ra trong hai năm 2026-2027. Nhưng lời mời tổng bí thư và tân chủ tịch nước Tô Lâm rất quan trọng, nhất là vì chúng tôi thấy việc ông thâu tóm quyền hành đã gặp khó khăn hơn dự kiến, và chúng tôi không biết liệu điều đó có ảnh hưởng đến mối quan hệ này hay không. Thực tế chúng ta có thể thấy rõ kể từ năm 2009, bất chấp mọi thay đổi và đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động, hai nhóm nhà ngoại giao tại Hà Nội và Roma đã gặp gỡ thường xuyên và xây dựng được năng lực đối thoại rất tốt. Điều này khá độc đáo đối với Việt Nam, không như các nước cộng sản khác trong khu vực, dù là Bắc Triều Tiên hay Trung Quốc. Đây quả là một trường hợp đặc biệt đối với Vatican, và tôi xin nhắc lại, Đức ông Parolin rất thân thiết với Việt Nam, rất được các nhà ngoại giao Việt Nam nể trọng, và điều này đã góp phần quan trọng vào tiến trình dẫn đến lời mời này. Tất nhiên, mọi việc chưa ngã ngũ, nhưng dù sao đi nữa, các tín hữu Công giáo Việt Nam đã chờ đợi rất lâu và có lẽ vẫn khó tin rằng chuyến thăm đó cuối cùng sẽ diễn ra.” RFI: Đối với chính quyền Hà Nội, lợi ích đối với họ là gì, nếu Việt Nam được tiếp đón giáo hoàng và bình thường hóa bang giao với Tòa Thánh? Trần Thị Liên Claire: ”Tất nhiên, như tôi đã nói, không thể so sánh với các nước lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ hay các nước châu Âu. Nhưng xét từ cả góc độ quốc tế và trong nước, tôi xin nhắc lại, thiết lập quan hệ chính thức với Vatican cũng sẽ đảm bảo lòng trung thành của người Công Giáo đối với chính quyền Việt Nam. Và mục tiêu của họ, sau cùng, là duy trì quyền lực của đảng độc quyền lãnh đạo. Vì vậy, trước hết và trên hết, họ mong muốn trở thành một cường quốc kinh tế đáng kể - đó là ưu tiên - nhưng cũng là một cường quốc được quốc tế công nhận. Tóm lại, tôi cho rằng đây sẽ là một sự kiện lịch sử, bởi vì đã hơn 50 năm Việt Nam không có sứ thần Tòa Thánh và chưa từng có chuyến thăm nào của Giáo hoàng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam. Trên bình diện chính trị và địa chính trị, đây là một thành công đối với cả ba chủ thể chính: Vatican, Nhà nước Việt Nam và Giáo hội Việt Nam. Và vì vậy, xét về mặt tôn giáo, tất nhiên đối với người Công giáo Việt Nam, đây là sự công nhận tầm quan trọng của Giáo hội Việt Nam trong Giáo hội châu Á.”
Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông lại làm giảm bớt căng thẳng tranh chấp chủ quyền giữa Manila và Bắc Kinh. Ngày 24/03/2026, tổng thống Marcos Jr. tuyên bố “sẵn sàng nối lại đàm phán dự án dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông” , sau đó được bộ Ngoại Giao Philippines nhấn mạnh là “phải tuân theo Hiến Pháp Philippines” . Một tháng sau, đại sứ Philippines tại Trung Quốc giải thích hai bên “vừa cố gắng quản lý những khác biệt vừa tìm kiếm sự hội tụ lợi ích” . Lần đầu đầu tiên từ ba năm qua, dấu hiệu “tan băng” bắt đầu xuất hiện cho dù nguyên thủ Philippines và Trung Quốc cam kết nối lại đàm phán phát triển dầu khí chung ở Biển Đông nhân chuyến công du Bắc Kinh đầu năm 2023 của tổng thống Marcos Jr. Tháng 03/2026, Philippines ban bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia” do khủng hoảng Trung Đông. Ngay sau đó, Bắc Kinh hứa hỗ trợ duy trì nguồn cung nhiên liệu. Khu vực khai thác chung Philippines-Trung Quốc nằm ở đâu ? Mô hình này sẽ tác động như thế nào đối với Việt Nam ? Khủng hoảng Trung Đông đang định hình lại nguồn cung nhiên liệu của nhiều nước Đông Nam Á. Liệu Việt Nam, Philippines và Trung Quốc có thể hướng đến việc tách riêng tranh chấp chủ quyền để đồng khai thác dầu khí ở Biển Đông ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp. RFI : Gần đây, Manila đề cập đến việc nối lại đàm phán với Bắc Kinh về dự án thăm dò dầu khí chung ở Biển Đông. Xin ông giải thích bối cảnh đằng sau quyết định này của Philippines ? Laurent Gédéon : Bối cảnh của quyết định này liên quan đến việc Philippines bị phụ thuộc nặng nề vào nguồn tài nguyên hydrocarbon, với các nhà cung cấp dầu chính, theo thứ tự quan trọng, là Ả Rập Xê Út, Irak, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Kuwait. Có thể thấy Philippines nhập khẩu gần như toàn bộ dầu thô từ Trung Đông, khiến nước này rất dễ bị ảnh hưởng bởi biến động giá dầu và gián đoạn nguồn cung. Để đối phó với tình trạng này, ngày 24/03, tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã tuyên bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia” , nhằm ứng phó với “rủi ro từ gián đoạn cung ứng và tác động tiêu cực của giá nhiên liệu tăng cao” , hậu quả của xung đột Trung Đông. Đây là một phần trong nỗ lực của chính phủ nhằm giảm thiểu tác động của giá nhiên liệu tăng vọt đối với nền kinh tế quốc gia. Đọc thêm Philippines và Trung Quốc nối lại đàm phán về Biển Đông và hợp tác năng lượng Về vấn đề này, trong cuộc họp báo ngày 25/03, tổng thống Marcos Jr. cho biết Philippines sẽ tìm nguồn cung năng lượng thay thế từ các đối tác ít bị ảnh hưởng bởi bất ổn Trung Đông. Ông cho biết Manila đang đàm phán với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Giống như Việt Nam, Philippines cũng đề nghị Tokyo hỗ trợ tiếp cận một phần dự trữ dầu của Nhật Bản. Tokyo phản hồi tích cực, nhưng nhấn mạnh việc hỗ trợ sẽ phụ thuộc vào nhu cầu cụ thể của họ. Cũng chính trong bối cảnh phức tạp này, Philippines thông báo nối lại đàm phán với Trung Quốc về dự án phát triển dầu khí chung. RFI : Thông báo của Philippines liên quan đến khu vực nào tại Biển Đông ? Laurent Gédéon : Khu vực được thảo luận là bãi Cỏ Rong (Reed Bank, Philippines gọi là bãi Recto), cách đảo Palawan khoảng 80 hải lý về phía tây, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Dự án phát triển tài nguyên hydrocarbon tại bãi Cỏ Rong rất quan trọng đối với nguồn cung năng lượng của Philippines vì theo ước tính, khu vực này chứa khoảng 165 triệu thùng dầu và 3.486 nghìn tỷ feet khối khí đốt. Nguồn tài nguyên này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mỏ khí Malampaya - hiện cung cấp gần 30% nhiên liệu cho Philippines - đang cạn dần. Vì vậy, việc phát triển bãi Cỏ Rong được xem là giải pháp thay thế cấp thiết. Tương lai an ninh năng lượng của Philippines phụ thuộc nhiều vào kết quả các cuộc đàm phán, trong khi nước này vẫn đối mặt với rủi ro đáng kể. RFI : Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc và Philippines nêu khả năng khai thác chung dầu khí ở Biển Đông. Trước đây, vấn đề này đã được đề cập như thế nào ? Laurent Gédéon : Đây là một tiến trình rất dài. Năm 2003, Trung Quốc và Philippines đã bắt đầu đàm phán về việc cùng khai thác dầu ngoài khơi. Năm 2005, thỏa thuận ba bên về « Khảo sát Địa chấn biển chung » (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) được ký giữa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PETROVIETNAM) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Philippines (PNOC), tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Năm 2012, chính quyền Aquino khôi phục ý tưởng hợp tác với Trung Quốc, nhằm thu hút CNOOC đầu tư thăm dò dầu khí. Tuy nhiên, nỗ lực này thất bại do lo ngại liên quan đến đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc. Năm 2014, Manila áp đặt lệnh cấm tạm thời đối với hoạt động thăm dò tại các vùng biển tranh chấp vì căng thẳng với Trung Quốc gia tăng và sau khi Philippines đưa vụ việc ra Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở La Haye. Tình hình bế tắc trong hai năm, sau khi Bắc Kinh bác bỏ phán quyết ngày 12/07/2016 của Tòa phủ nhận yêu sách “đường chín đoạn” bao trùm phần lớn Biển Đông. Đọc thêm Biển Đông : Động cơ chính trị của Trung Quốc đằng sau tuyên bố bảo vệ môi trường ? Đến năm 2018, hai bên đạt được một số tiến triển khi ký bản ghi nhớ, thiết lập khuôn khổ đàm phán hợp tác phát triển dầu khí. Thỏa thuận quy định trong vòng 12 tháng kể từ tháng 11/2018, hai bên phải thống nhất được khu vực và phương thức thăm dò chung ở Biển Đông. Tuy nhiên, vì không có thỏa thuận cụ thể nào được ký kết, tổng thống Rodrigo Duterte đình chỉ đàm phán vào tháng 06/2022. Ngày 10/01/2023, Tòa án Tối cao Philippines tuyên bố vô hiệu thỏa thuận JSMU ký năm 2005 với Trung Quốc và Việt Nam vì vi hiến, do lo ngại làm suy yếu chủ quyền quốc gia. Dù vậy, các cuộc tiếp xúc không chính thức giữa Trung Quốc và Philippines vẫn tiếp diễn, trước khi hai bên chính thức nối lại đối thoại vào tháng 01/2025. Tiến trình được thúc đẩy trong năm 2026 qua các cuộc tham vấn song phương, bao gồm cuộc tham vấn lần thứ 24 giữa bộ Ngoại Giao hai nước tại Tuyền Châu, Trung Quốc và cuộc họp lần thứ 11 của cơ chế tham vấn song phương về Biển Đông. Các cuộc đàm phán này nhằm xác định những bước đi ban đầu hướng tới hợp tác dầu khí. Tuy nhiên, cần theo dõi phần tiếp theo vì ngày 29/03, Manila khẳng định mọi quyết định hợp tác sẽ phải tuân thủ Hiến Pháp Philippines và bảo đảm chủ quyền quốc gia. RFI : Một số vùng mà Manila tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn với vùng biển mà Việt Nam khẳng định chủ quyền. Một dự án thăm dò dầu khí chung giữa Trung Quốc và Philippines có thể tác động như thế nào đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ? Laurent Gédéon : Bãi Cỏ Rong, nơi Trung Quốc và Philippines vừa đàm phán triển khai thăm dò dầu khí chung, nằm ngoài khu vực chồng lấn chủ quyền của Philippines và Việt Nam tại Trường Sa, do đó dự án này không ảnh hưởng đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam. Đọc thêm Biển Đông: Việt Nam dè dặt với các sáng kiến của Philippines Tuy nhiên, tuyên bố chủ quyền vẫn tồn tại, liên quan đến phía nam Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Philippines. Vùng biển tranh chấp này sẽ là chủ đề đàm phán tương lai giữa Việt Nam và Philippines. Về tài nguyên dầu khí của Việt Nam, chúng tập trung quanh bãi Tư Chính, nằm ở rìa phía đông nam và nằm ngoài Vùng Đặc quyền Kinh tế của Philippines. Khu vực này, chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng Việt Nam, lại là tâm điểm căng thẳng, không phải giữa Việt Nam và Philippines, mà là giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bắc Kinh thường tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. RFI : Trong trường hợp này hoặc trong trường hợp các dự án phát triển chung giữa Trung Quốc và Philippines, Việt Nam có thể làm gì ? Liệu lập trường của Hà Nội có được Bắc Kinh và Manila lắng nghe ? Laurent Gédéon : Khi Hiệp định Hợp tác Khảo sát Địa chấn Biển chung (JSMU) được ký năm 2005, mà tôi đề cập ở trên, cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng. Tình hình sau đó trở nên phức tạp hơn do Trung Quốc chính thức hóa các tuyên bố chủ quyền tối đa, thể hiện qua “đường chín đoạn” . Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời. Đặc biệt, Trung Quốc đã tích cực đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Philippines và Việt Nam kể từ năm 2017. Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược (…) Về lập trường của Việt Nam, kịch bản khả thi nhất sẽ là một hoặc nhiều thỏa thuận chia sẻ tài nguyên, theo đó Trung Quốc, Việt Nam và Philippines sẽ cùng nhau khai thác dầu khí. Tuy nhiên, sự hợp tác như vậy sẽ đòi hỏi cả tính sáng tạo về mặt pháp lý và thiện chí thực sự từ phía các nước liên quan để đạt được một thỏa hiệp. Đọc thêm Biển Đông : Việt Nam có chịu "nhượng" chủ quyền để cùng Philippines chống Trung Quốc ? Theo tôi, Hà Nội, cũng như Bắc Kinh và Manila, trong trường hợp này nên chấp nhận một số nhượng bộ để dung hòa các tuyên bố chủ quyền của mỗi bên đối với các khu vực tranh chấp với việc chia sẻ công bằng các nguồn năng lượng có trong những khu vực đó. Trong trường hợp như vậy, các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của ba bên. Có khả năng đây là một hướng để suy ngẫm hoặc một cơ hội chính trị và kinh tế đáng để đào sâu, đặc biệt là đối với Việt Nam. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon.
Ranking source
Apple Podcasts rankings via the Mato Topic Intelligence Platform.
Observed September 20, 2026.
Apple and Apple Podcasts are trademarks of Apple Inc., registered in the U.S. and other countries.
Pairs with
Bring this source into Mato to read its transferable patterns, then turn them into an original show for your own audience.